rss
Thứ năm, 18/07/2019 | 06:55 GMT+7

SỰ QUAN TÂM, LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THỂ DỤC THỂ THAO

Cập nhật 17:03 ngày 26/06/2019
(Trong nước) - Trong bối cảnh thể thao Việt Nam vẫn còn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về nguồn kinh phí đầu tư, đặc biệt là từ ngân sách Nhà nước, thể thao nước nhà những năm qua vẫn liên tục gặt hái được rất nhiều thành công. Những chiến tích vẻ vang của các VĐV, các đội tuyển trước hết đến từ sự mưu trí trong thi đấu, nhưng cũng xuất phát từ tinh thần khổ luyện của các VĐV và sự tu dưỡng về ý chí, nỗ lực phấn đấu đúng theo tinh thần của một nền thể thao xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng và Chính phủ!

Hình ảnh: SỰ QUAN TÂM, LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI  CÔNG TÁC THỂ DỤC THỂ THAO số 1

Từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong hoạt động thể dục thể thao trong các thời kỳ khó khăn

Kể từ khi ngành Thể dục thể thao cách mạng ra đời (đầu năm 1946), những văn kiện của Đảng và Nhà nước đã soi đường, chỉ lối cho những người làm công tác thể dục thể thao (TDTT) phấn đấu, xây dựng một nền TDTT phát triển và tiến bộ, mang đậm tính dân tộc, khoa học và nhân dân. Những văn kiện ấy đã đặt nền tảng cơ bản về quan điểm, tư tưởng, về xây dựng tổ chức, hoạt động TDTT qua các thời kỳ, hướng TDTT phục vụ đắc lực nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần phát biểu chỉ đạo, chăm sóc từng bước phát triển của sự nghiệp TDTT. Công tác TDTT được xác định là một công tác cách mạng; TDTT là sự nghiệp của toàn dân, vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì vinh quang của Tổ quốc Việt Nam.

Trong bối cảnh đất nước còn phải đối mặt với không chỉ giặc ngoại xâm mà cả “giặc đói” lẫn “giặc dốt”, Chính phủ non trẻ phải xử lý muôn vàn vấn đề phức tạp, khó khăn, thì sự cần thiết của TDTT vẫn được Bác Hồ nhìn nhận rõ ràng. Bởi vậy, các bản sắc lệnh số 14 (ngày 30/1/1946) và 38 (27/3/1946) đều nhằm mục đích xác định cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất về TDTT, từ đó định hướng công tác hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao sức khỏe của nhân dân, đồng thời phát huy vai trò của TDTT như một công cụ trên mặt trận chính trị, tư tưởng và cả ngoại giao!

Đặc biệt, sau kháng chiến chống Pháp, khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, thì công tác TDTT được đặc biệt quan tâm và đẩy mạnh, thể hiện rõ qua các văn kiện của Đảng và Nhà nước.

Ngày 2/10/1958, trong bản chỉ thị về công tác TDTT số 106-CT/TW của Ban chấp hành Đảng Lao Động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Đảng ta đã xác định rất rõ: “Dưới chế độ của chúng ta, việc săn sóc sức khỏe của nhân dân, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng nước nhà và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng. Nhưng tình hình sức khỏe của cán bộ và nhân dân ta hiện nay còn rất thấp kém. Ngoài việc tăng cường cải thiện sinh hoạt và điều kiện lao động, tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh, vấn đề TDTT và thể dục quốc phòng có tác dụng lớn trong việc bồi bổ sức khỏe của nhân dân và cán bộ. Công tác TDTT là một phương pháp rất có hiệu quả để tăng cường lực lượng lao động sản xuất và lực lượng quốc phòng của cán bộ và nhân dân ta, tăng cường dũng khí và nghị lực của mỗi người dân, tăng cường sức đề kháng của nhân dân ta chống bệnh tật, chống vi trùng. Hơn nữa, vận động TDTT còn là một trong những phương pháp tốt để giáo dục nhân dân về tính tổ chức, tính kỷ luật và đoàn kết quần chúng đông đảo chung quanh Đảng và Chính phủ”.

Chỉ thị cũng nêu rõ thực trạng của công tác TDTT: “Nhưng vì hoàn cảnh chung còn khó khăn, cơ sở TDTT cũ rất nhỏ hẹp, việc tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa to lớn của vận động TDTT đối với Tổ quốc, đối với sản xuất, công tác và đối với bản thân mỗi người chưa được phổ cập trong cán bộ và nhân dân; nhiều người chưa hiểu rõ tác dụng của công tác TDTT; nhiều cán bộ lãnh đạo chưa thấy hết trách nhiệm của mình đối với công tác TDTT, tự mình cũng chưa gương mẫu tham gia TDTT”...Từ đó, Đảng đã xác định 5 vấn đề cấp bách (5 biện pháp) để đẩy mạnh TDTT, từ nhận thức tới hành động trên toàn quốc.

Hai năm sau, ngày 31/1/1960, đồng chí Nguyễn Duy Trí thay mặt Ban Bí thư ký tiếp Chỉ thị số 181-CT/TW trong đó chỉ rõ việc “nhiều cấp ủy Đảng vẫn chưa tập thể nghiên cứu Chỉ thị số 106, thiếu kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của công tác TDTT và thể thao quốc phòng trong cán bộ và nhân dân” từ đó dẫn tới hiệu quả chưa cao, còn những quan niệm lệch lạc đối với công tác TDTT; cơ quan phụ trách TDTT còn quá yếu; công nhân, cán bộ, nhân viên, thanh niên ở nông thôn còn chưa tham gia đông đảo phong trào TDTT và thể thao quốc phòng; việc xây dựng và sử dụng sân bãi, sản xuất dụng cụ TDTT, xây dựng một số chế độ, chính sách cần thiết chưa tiến hành được nhiều đã ảnh hưởng đến việc phát triển phong trào....

Từ đó, Trung ương Đảng xác định “Phong trào TDTT và thể thao quốc phòng của ta phải trở thành một phong trào quần chúng rộng tãi, ngày càng được nâng cao về mặt kỹ thuật. Để đạt mục đích góp phần tăng cường thể chất, nghị lực và giáo dục, đoàn kết đông đảo nhân dân, cần lấy việc mở rộng phong trào làm chính, không bó hẹp trong một số ít tổ chức hoặc một vài môn, đồng thời cần quan tâm đúng mức đến việc nâng cao trình độ chuyên môn”.

Bên cạnh đó, TW Đảng cũng nêu rõ cần tăng cường tổ chức và lãnh đạo các cơ quan phụ trách TDTT từ trung ương đến địa phương (kể cả ở các ngành). Đổi Ban Thể dục thể thao trung ương thành Ủy ban Thể dục thể thao trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Đây có thể xem là một dấu mốc quan trọng trong cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước về TDTT của chúng ta. Chỉ thị cũng nêu rõ tầm quan trọng của việc tăng cường công tác đào tạo cán bộ TDTT, có kế hoạch gửi cán bộ đi học nước ngoài; nghiên cứu ban hành một số chính sách, chế độ như: chế độ rèn luyện thân thể để lao động, bảo vệ Tổ quốc, chế độ cấp bậc VĐV... Đồng thời, Đảng cũng yêu cầu mở hội nghị TDTT toàn miền Bắc – một “hội nghị Diên Hồng” lớn đầu tiên của công tác TDTT (Bác Hồ đã đến dự và phát biểu).

Trong các năm tiếp theo, suốt trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dù cần tập trung cao độ cho kháng chiến của đất nước và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, nhưng công tác TDTT vẫn rất được Đảng ta quan tâm. Ban chấp hành TW Đảng tiếp tục ban hành “chỉ thị về tăng cường công tác thể thao quốc phòng” (28/2/1962), “chỉ thị về công tác bảo vệ sức khỏe của cán bộ” (3/6/1964), “chỉ thị về việc bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của cán bộ và nhân dân trước tình hình mới” (11/1/1967), “chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe cán bộ, công nhân, viên chức (20/11/1967), “chỉ thị về tăng cường công tác TDTT trong những năm tới” (26/8/1970)...

Đặc biệt, ngay sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, Trung ương Đảng đã ban hành “Chỉ thị về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày hoàn toàn giải phóng” (17/6/1975), trong đó xác định rõ giáo dục thể chất là một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện. Ngày 18/11/1975, TW Đảng ban hành tiếp “Chỉ thị về công tác TDTT trong tình hình mới”.  

Trong văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) cũng nhấn mạnh 2 nội dung rất quan trọng là “công tác y tế và công tác thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khỏe và bồi dưỡng thể lực của nhân dân; nhanh chóng khắc phục những hậu quả của chiến tranh, những di hại của chế độ thực dân mới về mặt xã hội”. Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V (1982) và VI (1986) cũng tiếp tục có sự quan tâm đặc biệt đối với công tác TDTT.

Tới sự lãnh đạo của Đảng đối với TDTT Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Năm 1989, đoàn Thể thao Việt Nam lần đầu tiên tham dự đấu trường thể thao Đông Nam Á (SEA Games) với tư cách 1 đoàn thể thao chính thức của một đất nước thống nhất (trước đó, đoàn thể thao miền Nam Việt Nam từng góp mặt tại Đại hội thể thao Đông Nam Á từ lần đầu vào năm 1959-1973). Đấy có thể xem là một dấu mốc hết sức quan trọng của thể thao nước nhà, cũng hoàn toàn phù hợp với bối cảnh của nền chính trị xã hội đang bắt đầu công cuộc đổi mới.

Ngày 24/3/1994, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành chỉ thị số 36-CT/TW “về công tác TDTT trong giai đoạn mới”. Trong đó, Đảng xác định rõ thực trạng, bao gồm nhiều mặt yếu kém, một cách hết sức cụ thể như sau:

“Thể dục thể thao của nước ta còn ở trình độ rất thấp. Số người tập luyện thường xuyên còn rất ít, đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện. Hiệu quả giáo dục thể chất trong trường hợp và trong các lực lượng vũ trang còn thấp.

Thành tích các môn thể thao còn thua kém xa so với nhiều nước trong khu vực. Lực lượng VĐV trẻ kế cận rất mỏng. Còn nhiều biểu hiện tiêu cực trong các hoạt động thể thao. Đội ngũ cán bộ TDTT còn rất thiếu và yếu về nhiều mặt.

Tổ chức của ngành TDTT trong nhiều năm qua không ổn định, có lúc còn bị thu hẹp, hoạt động kém hiệu lực. Các tổ chức xã hội về TDTT còn yếu kém.

Cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật của TDTT vừa thiếu, vừa lạc hậu, ngay cả ở các thành phố lớn, các địa bàn tập trung dân cư, các trường học và các cơ sở của lực lượng vũ trang. Nhiều sân bãi, cơ sở tập luyện bị lấn chiếm, sử dụng vào việc khác”.

Trung ương Đảng  cũng chỉ rõ một loạt các nguyên nhân lớn, mang tính chủ đạo dẫn tới sự yếu kém kể trên:

“Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và còn xem nhẹ vai trò của TDTT trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, chưa thực sự coi TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng. Ngành TDTT và các ngành, các đoàn thể nhân dân chưa phối hợp chặt chẽ trong công tác TDTT.

Nhà nước chưa kịp thời bổ sung, sửa đổi các chính sách, chế độ phù hợp với yêu cầu phát triển TDTT. Đầu tư cho lĩnh vực TDTT còn rất hạn chế.

Quản lý ngành TDTT còn kém hiệu quả, chưa có cơ chế thích hợp để phát huy những nhân tố mới, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân nhằm phát triển TDTT”.

Từ nhận thức trên, Trung ương Đảng nêu rõ những quan điểm và mục tiêu phát triển TDTT, trong đó nhấn mạnh “xây dựng nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân”, đồng thời mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về TDTT... “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á”.

Ngày 23/10/2002, nhằm tổng kết 8 năm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW và 4 năm thực hiện Thông tri 03-TT/TW, Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 17-CT/TW “về phát triển TDTT đến năm 2010”. Theo đó, Chỉ thị xác định rõ 9 nhiệm vụ quan trọng trên tất cả các mặt hoạt động, kèm theo những mục tiêu rất cụ thể như “đến năm 2010, toàn quốc đạt tỷ lệ 18-20% dân số tập luyện TDTT thường xuyên; 80-90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định; giữ vị trí là 1 trong 3 nước đứng đầu về thể thao ở khu vực Đông Nam Á, một số môn có thứ hạng cao tại các giải thể thao châu Á và thế giới”.

Một năm sau khi Chỉ thị 17 được ban hành, lần đầu tiên, tại đấu trường SEA Games, thể thao Việt Nam vươn lên tốp 3 của khu vực Đông Nam Á (thậm chí còn dẫn đầu tại SEA Games 22 năm 2003), và giữ vững vị trí ấy cho tới nay. Một các chỉ số liên quan (như số người tập luyện TDTT thường xuyên, số học sinh đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể...) đều đạt và vượt ở mốc thời gian năm 2010...

Ngày 1/12/2011, Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2030”.  Trong đó, Nghị quyết xác định rõ 6 nhiệm vụ và giải pháp trọng yếu bao gồm: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học”, “mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng”, “nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao”; “nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ”; “Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển các tổ chức xã hội về thể dục thể thao; tăng cường hợp tác quốc tế” và “tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền”.

Hình ảnh: SỰ QUAN TÂM, LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI  CÔNG TÁC THỂ DỤC THỂ THAO số 2

 

Cùng với sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đã thường xuyên đưa ra những định hướng, chiến lược cụ thể về công tác TDTT qua các thời kỳ.  Đặc biệt, vào ngày 3/12/2010, Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển thể dục, thể thao đến năm 2020”, qua đó thay đổi chiến lược đầu tư cho đội ngũ VĐV các môn thể thao cơ bản theo chương trình thi đấu Asian Games (ASIAD) và Olympic, định hướng đến năm 2030.

Sức khỏe và thể chất của nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế của thể thao Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế; thể dục thể thao có những đóng góp thiết thực và quan trọng tới đời sống kinh tế xã hội của đất nước... Tất cả những thành quả ấy của nền TDTT cách mạng trước hết gắn với sự quan tâm, chỉ đạo rất sát sao và kịp thời của Đảng ta trên những chặng đường phát triển!

HỮU BÌNH (Trưởng Ban Biên tập Tạp chí Thể thao)                                   

 

 

Bình luận (0)
Gửi