rss
Thứ tư, 24/10/2018 | 11:12 GMT+7

Bản sắc văn hóa qua trò chơi dân gian

Cập nhật 12:04 ngày 27/02/2018
(Thể thao phong trào) - Mỗi dịp Tết đến Xuân về, hàng loạt các lễ hội đã được tổ chức trên mọi miền tổ quốc. Ở mỗi lễ hội các trò chơi dân gian lại được tổ chức nó không đơn thuần là để giải trí, mà còn phản ánh quan niệm sống của người Việt. Có nhiều trò chơi đã bị mai một nhưng giá trị vẫn còn sống mãi cùng thời gian…
 
Có trò chơi mang tính chiến đấu…
 
Hình ảnh: Bản sắc văn hóa qua trò chơi dân gian số 1
 
 
Đầu tiên phải nói đến môn vật,  đây là một trò chơi thượng võ, cũng là một môn thể thao rất nổi tiếng vào các dịp Tết hoặc lễ hội. Ngày Tết hiện còn có nhiều hội vật ở Hà Nam, Bắc Ninh, Phú Thọ... Để khuyến khích tài năng cũng như sự rèn luyện của trai tráng, nhiều làng xã đã treo giải vật rất cao. Đấu sĩ vật đòi hỏi sức khỏe, mưu trí và nhanh nhẹn; trò chơi kéo co lại là trò chơi thu hút được rất đông người tham gia. Đây là trò chơi giải trí mà cũng có tính chiến đấu cao rừa có tác dụng rèn luyện sức khỏe lại vui vẻ, thoải mái. Cho đến ngày nay, kéo co đã trở thành trò chơi tập thể phổ biến. Cách chơi thì đơn giản, số người thoải mái, chia làm hai phe bằng nhau; Ở môn chọi gà, được coi là một thú chơi tao nhã, vừa có tính tiêu khiển lại vừa khuyến khích việc chăn nuôi của người nông xưa kia. Trò chơi dân gian này đòi hỏi ở người chơi sự kỳ công rất lớn từ việc nuôi gà giống, chăm sóc, tập luyện…
 
Sau này, rất tiếc là môn chọi gà đã dần bị biến tướng thành một môn cờ bạc, làm mất đi ý nghĩa văn hóa vốn có của nó; Cờ người – một trò chơi dân gian bất biến trong dịp lễ hội đầu năm. Ở các giải đấu cờ tướng, quân cờ là người thật mang áo có hình một quân trên bàn cờ. Trong mỗi trận đấu, vừa có tính tranh đua của các kỳ thủ, vừa có sự biểu diễn, bởi sau một nước đi là màn biểu diễn các bài võ thuật của các “quân cờ”, nhất là nước có ăn quân; trong khi đó, ở trò chơi Cướp khăn (cướp cờ): Trên một sân rộng có một vòng tròn nhỏ, là nơi để cái khăn, mũ hoặc cờ nhỏ, hai đội chơi (mỗi đội 7-15 người) ở hai đầu sân, cách vòng tròn đó khoảng 4-5m, được vạch hai làn ranh. Hai đội đứng dàn hàng ngang đối nhau và bắt từng cặp một theo thứ tự. Khi người điều khiển để kêu số thì từng cặp sẽ cùng chạy lên tìm cách lấy được khăn; trong khi đó, ở môn Đua thuyền: Đây là trò chơi diễn ra ở rất nhiều nơi trong cả nước, tùy theo tập tục của vùng miền, dân tộc, điều kiện sinh sống… Chẳng hạn, người miền ngược thường đua thuyền độc mộc, người miền biển đua thuyền thúng, người Khmer lại đua ghe ngo… Các cuộc đua thuyền phản ánh sâu sắc đời sống gắn bó với sông nước của các dân tộc trên đất nước Việt Nam.
 
Hình ảnh: Bản sắc văn hóa qua trò chơi dân gian số 2
 
 
…lại có trò chơi mang tính cạnh tranh
 
Tiêu biểu phải kể đến trò bịt mắt bắt dê: Trên một sân cỏ, người chơi quây xung quanh làm vòng tròn. Mỗi cặp chơi hai người bị bịt mắt thật chặt lần lượt vào sân chơi. Một trong hai người làm dê, người kia bắt. Người làm dê trong quá trình chạy trốn thỉnh thoảng phải gây ra tiếng động để người bắt biết mà đuổi theo... Trò chơi này nguyên là bịt mắt bắt dê thật nhưng sau không dùng dê mà người đuổi bắt người nhưng vẫn dùng tên cũ; trò leo cầu lấy thưởng: Ở một bờ đất cao trên một hố đất rộng có bắc một đoạn tre làm cầu. Đoạn tre ấy một đầu nằm ghếch trên bờ đất, đầu kia buộc vào sợi thừng hay chão, dây buộc vào chiếc cột chôn vững chắc, có treo giải thưởng. Chiếc cầu luôn đung đưa khó đi nên nhiều người ngã lăn xuống hố. Cuộc chơi vì thế mà rất hào hứng, vui vẻ; trò Bắt chạch trong chum: Đặt trước sân đình, mỗi chum được đổ 2/3 nước và thả vào đó một con chạch. Từng đôi trai gái tham gia trò chơi, mỗi người phải đưa một tay ra ôm nhau, còn tay kia thò vào chum bắt chạch. Chạch trơn nên luôn chạy thoát, thành ra đôi trai gái chỉ bắt được tay nhau. Dân làng đứng xung quanh reo hò cổ vũ và trêu đùa các đôi mải bắt chạch mà quên ôm nhau; trò đánh phết: Trước sân đình, hai đầu sân có vòng tròn vạch vôi hay đào lỗ làm mục tiêu. Người đánh phết chia làm hai phe dùng gậy tre để cả gốc dài 1m đánh vào quả phết (làm bằng gỗ tròn sơn đỏ), hễ quả chuyển vào vòng tròn (hay lỗ) của đối phương là thắng cuộc. Trò chơi này là nguồn gốc của quán ngữ “vui ra phết”.
 
Mang nhiều giá trị văn hóa truyền thống
 
Các trò chơi dân gian của người Việt trong dịp lễ hội nói chung và vào dịp Tết nói riêng đều gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp và chống ngoại xâm. Tuy ý nghĩa cụ thể của từng trò chơi có khác nhau, nhưng xét ở góc độ văn hóa, các trò chơi này đều mang một số ý nghĩa chung đó là:
 
* cầu mong may mắn trong năm mới. Theo đó, các trò chơi có tính cạnh tranh không có nghĩa là làng này, địa phương này giành lấy cái may mắn của làng khác, địa phương khác mà để tạo động lực cùng nhau cố gắng để được may mắn nhiều hơn. Điều mà trò chơi muốn hướng đến đó chính là thông điệp: may mắn không tự nhiên đến mà nỗ lực, cũng như dù có mưa thuận gió hòa thì mỗi làng, mỗi địa phương cũng phải cố gắng tối đa cho mùa vụ mới.
 
Hình ảnh: Bản sắc văn hóa qua trò chơi dân gian số 3
 
 
* Kêu gọi người dân rèn luyện sức khỏe, sự khéo léo, mưu trí: Dù trong sản xuất hay chiến đấu thì cũng cần phải mạnh khỏe, nhanh nhẹn, khéo léo, thông minh, gan dạ… Muốn vậy thì phải rèn luyện, và không gì tốt hơn bằng các trò chơi, các cuộc thi. Bởi vậy, phần nhiều các trò chơi dân gian đều mang tính cạnh tranh cao hoặc tính chiến đấu khá quyết liệt. Các trò chơi trong dịp Tết dù mang tính giải trí, vui chơi lành mạnh nhưng cũng không nằm ngoài ý nghĩa rèn luyện, để sẵn sàng cho các công việc sau Tết.
 
* Đề cao tinh thần đoàn kết cộng đồng: Trò chơi dân gian nào cũng mang tính làng xã, bởi dù ở những trò chơi cá nhân thì cũng được sự quan tâm, theo dõi, động viên, cổ vũ của đông đảo bà con, thậm chí cá nhân đó còn đại diện cho cả một tập thể, một cộng đồng, sự thành công của cá nhân là đem lại sự may mắn, thuận lợi cho cả cộng đồng. Còn với những trò chơi tập thể thì không chỉ cần sự đồng lòng, ăn ý của tập thể đó mà còn đại diện cho nguyện vọng của một cộng đồng. Do đó, thành công của cá nhân gắn liền với thành công tập thể và là sự động viên cho cả làng xã cho mùa vụ mới, cho một năm mới.
 
* Đề cao tinh thần thượng võ, sẵn sàng chống ngoại xâm: Dân tộc ta phải thường xuyên chống lại các cuộc xâm lăng, cướp phá của các thế lực phong kiến lân cận. Do đó, về phía Nhà nước, thường tổ chức “ngụ binh ư nông”, tức là vào thời bình, cho quân lính về làng làm ruộng, hoặc cho quân địa phương làm ruộng tại chỗ, khi cần thì trưng dụng; về phía người dân, thì luôn có tâm lý sẵn sàng tham gia quân đội để chống giặc hoặc thực hiện chính sách “vườn không nhà trống”, thậm chí có thể tự lực, tự vệ. Các cuộc thi đấu chính là để rèn luyện tinh thần đó.
 
* Ghi dấu và nhớ ơn các tiền nhân: Một số trò chơi chính là diễn lại các hoạt động chống giặc hoặc khẩn hoang của cha ông xưa. Chẳng hạn trò đánh phết gắn với sự tích Hai Bà Trưng luyện tập binh sĩ, sau cũng được Lý Thường Kiệt áp dụng khi chống quân Tống; hay các hội cờ thường nhắc đến một người đánh cờ rất nổi tiếng là Đế Thích, người Thăng Long và đời Lê sơ (1428-1527), cũng là nhắc đến mưu trí của người Việt qua các thời kỳ lịch sử; còn hội đua thuyền tương truyền có từ thời vua Lê Đại Hành (985), người đặt ra lệ đua thuyền đầu tiên…
 
Tóm lại, các trò chơi đó phản ánh một dân tộc từng phải trân mình chống thiên tai địch họa nên phải luôn cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; các trò chơi đó dù luôn tranh đua quyết liệt nhưng đều hướng tới sự chuẩn bị thường xuyên, kịp thời cho các hoạt động sản xuất và chống giặc. Bởi vậy, dù cạnh tranh nhau, nhưng cuối cùng, các trò chơi đều hướng tới sự đoàn kết, thống nhất của các cộng đồng, các làng xã, trên hết là của cả nước.
 
Nguyễn Minh Hải
 
Bình luận (0)
Gửi