rss
Thứ bảy, 18/11/2017 | 21:02 GMT+7

Cách mạng công nghiệp 4.0 những thách thức, thời cơ ảnh hưởng đến ngành Du lịch Việt Nam

Cập nhật 10:02 ngày 25/08/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Để phát triển, Du lịch Việt Nam cần tư duy thoát khỏi lối mòn với ý tưởng, hệ thống cũ. Bản chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh đổi mới, cạnh tranh toàn cầu. Sự phát triển của công nghệ làm dịch chuyển từ du lịch thắng cảnh sang du lịch đặc thù, đậm chất văn hóa truyền thống, độc đáo.

Đặt vấn đề

Cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ 4 không chỉ về máy móc, hệ thống thông minh mà là các làn sóng đột phá trong các lĩnh vực khác nhau, là sự dung hợp của công nghệ và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực. Công nghệ mới nổi và sự đổi mới trên diện rộng được khuếch tán nhanh, rộng rãi đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu. Du lịch vì thế cũng chịu ảnh hưởng trên nhiều mặt.

CMCN 4.0 và xu thế thay đổi

CMCN 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số, tích hợp công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức. Công nghiệp 4.0, là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu như sau:

- Thay đổi quá trình sản xuất và thời hạn sản xuất;

- Gia tăng cảm biến và các giải pháp kết nối thế giới;

- Đưa công nghệ thông tin từ vị trí ứng dụng lên vị trí điều khiển, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với chi phí không đáng kể;

- Phân hóa thị trường lao động dẫn tới sự thay đổi kết cấu xã hội.

CMCN 4.0 sẽ có tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội, chính phủ, doanh nghiệp, kinh doanh, tổ chức, cá nhân, an ninh... Đối với kinh tế là những thay đổi về tăng trưởng, việc làm và bản chất công việc. Đối với doanh nghiệp, kinh doanh là kỳ vọng của người tiêu dùng, dữ liệu, thông tin sản phẩm, hợp tác và mô hình hoạt động mới, dịch vụ và mô hình kinh doanh.

CMCN 4.0 và những thời cơ, thách thức ảnh hưởng đến ngành Du lịch Việt Nam

Tác động đối với Du lịch như sự gia tăng kỳ vọng của khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới hợp tác và hình thức tổ chức. Khách hàng là trung tâm của nền kinh tế, cải thiện cách thức phục vụ khách hàng. Sản phẩm và dịch vụ được tăng cường với khả năng số. Công nghệ mới làm cho dịch vụ du lịch nhanh chóng và linh hoạt, thông tin, dữ liệu được cập nhật liên tục và rộng rãi. Trải nghiệm của khách hàng, dịch vụ dựa trên dữ liệu qua phân tích đòi hỏi hình thức hợp tác mới, với tốc độ nhanh.

Toàn cầu hóa du lịch, du lịch trong thế giới phẳng

CMCN 4.0 đang mở ra nhiều cơ hội, đặc biệt là các nước đang phát triển nâng cao năng suất và rút ngắn khoảng cách. Sự kết nối giữa mọi người, mọi tổ chức không còn khoảng cách, thời gian diễn ra sự kiện đồng thời.

Hợp tác phát triển sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Nguồn khách nối Tour tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực và khả năng kết nối du khách.

Gia tăng nhu cầu đi lại, việc làm và kết hợp du lịch, gia tăng dòng khách quốc tế và tăng cường mật độ, quy mô loại hình du lịch - kinh doanh, du lịch - hội họp. Du lịch thêm điều kiện thuận lợi phát triển và du khách quốc tế làm thủ tục thuận lợi, nhanh và rẻ hơn.

Yêu cầu phát triển du lịch theo tiêu chuẩn toàn cầu: cung cách phục vụ, phòng ốc, thức ăn, tôn trọng những giá trị chung, thái độ với văn hóa và môi trường sinh thái. Xác lập giá trị và chuẩn mực chung đi liền với việc khẳng định và bảo vệ giá trị đặc thù của nền văn hóa. Tư duy toàn cầu về việc tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ giá trị đặc thù...

Sự dịch chuyển từ du lịch thắng cảnh sang du lịch đặc thù, đậm chất văn hóa truyền thống

Nhu cầu du lịch thay đổi, hướng tới giá trị mới trên cơ sở văn hoá truyền thống có tính độc đáo, nguyên bản, giá trị tự nhiên tính nguyên sơ, hoang dã, giá trị sáng tạo và công nghệ cao hiện đại, tiện nghi. Du lịch bền vững, xanh, có trách nhiệm, cộng đồng gắn hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội.

Công nghệ du lịch tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông, du lịch kết nối

CMCN 4.0 tạo nên sản phẩm phong phú với giá thành thấp, đem lại lợi ích lớn. Công nghệ kỹ thuật số tác động đến ngành kinh doanh dịch vụ du lịch. Công ty du lịch, lữ hành cần tận dụng lợi thế của cuộc cách mạng và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.

Cần được đầu tư và áp dụng công nghệ du lịch tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông vào kinh doanh du lịch trực tuyến, tham gia vào hệ thống phối chỗ toàn cầu nhằm phục vụ hoạt động Marketing, quảng bá sản phẩm và tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cần tăng cường hợp tác để học hỏi kinh nghiệm phát triển trong quá trình hội nhập. Sớm cải thiện hệ thống hạ tầng giao thông, đảm bảo an toàn an ninh. Chú trọng đầu tư thích đáng cho quảng bá, Marketing điểm đến để du lịch Việt Nam thực sự có hình ảnh và thương hiệu...

Quan tâm phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quản lý cũng như hoạt động, dịch vụ của ngành du lịch (quản lý nhà nước/quản trị kinh doanh, lữ hành, lưu trú, vận chuyển khách du lịch, bán hàng, ăn uống và dịch vụ khác); đặc biệt là “quảng bá xúc tiến và kinh doanh du lịch trực tuyến” phù hợp xu hướng và thói quen của du khách trên thế giới.

Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, yếu tố quyết định thành công trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ

CMCN 4.0 yêu cầu nhân lực có trình độ cao. Những nhân lực trình độ thấp dần dần được thay thế bởi máy móc, tự động. Phát triển thị trường lao động có tổ chức, chất lượng cao trở thành đòi hỏi bức xúc và công cụ đắc lực để hỗ trợ và phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch.

Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và phân hóa cao. Tự động hóa ảnh hưởng đến công việc văn phòng, bán hàng, dịch vụ khách hàng, và ngành hỗ trợ. Tự động hóa, báo cáo tự động và trợ lý ảo sẽ trở nên phổ biến. “Robot tư vấn” trong du lịch là điện thoại, máy tính bảng...

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để du lịch Việt Nam tận dụng được thời cơ và hóa giải những thách thức từ CMCN 4.0

Phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở thương hiệu vùng, địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm; chú trọng phát triển thương hiệu có vị thế cạnh tranh cao. Tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương để đảm bảo hiệu ứng thống nhất.

Phát triển sản phẩm gắn với không gian du lịch đặc trưng. Phát triển hệ thống sản phẩm chất lượng, đặc sắc, đa dạng và đồng bộ, có giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu; sản phẩm “xanh”, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương.

Tập trung sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái; hình thành hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch quốc gia; địa phương và đô thị. Quảng bá, tuyên  truyền về giá trị, ý nghĩa văn hóa, lịch sử, truyền thống điểm tham quan nhất là môi trường mạng.

Nâng cấp cơ sở hạ tầng, đơn giản hóa thủ tục, liên kết mở đường bay thẳng... Quy hoạch, đầu tư phát triển giao thông, thông tin, truyền thông, năng lượng, cấp thoát nước, môi trường đảm bảo đồng bộ. Đầu tư phát triển hạ tầng xã hội văn hóa, y tế, giáo dục. Phát triển đồng bộ, đảm bảo chất lượng, hiện đại, tiện nghi hệ thống khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí, đi lại tham quan.

Đào tạo và phát triển nhân lực du lịch, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ cao. Có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch phù hợp; chuẩn hóa nhân lực du lịch, chú trọng nhân lực quản lý và lao động có tay nghề cao; đa dạng hóa phương thức đào tạo.

Nâng cao dân trí, đẩy mạnh đào tạo nhất là văn hóa, nghiệp vụ, hướng dẫn du lịch, ngoại ngữ.

Kết luận

Để phát triển, Du lịch Việt Nam cần tư duy thoát khỏi lối mòn với ý tưởng, hệ thống cũ. Bản chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh đổi mới, cạnh tranh toàn cầu. Sự phát triển của công nghệ làm dịch chuyển từ du lịch thắng cảnh sang du lịch đặc thù, đậm chất văn hóa truyền thống, độc đáo. Công nghệ du lịch tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông, du lịch kết nối đặt ra cho ngành những cơ hội và thách thức mới. Phát triển nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp là mục tiêu, là yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ và ưu tiên đào tạo nhân lực bậc cao, đội ngũ quản lý. Những mô hình kinh doanh mới và các mô hình hợp tác mới xuất hiện yêu cầu phải có những giải pháp tốt hơn cho sự phát triển.

(PGS. TS. Bùi Quang Hải - Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo - Bộ VHTTDL

Nguyễn Thị Hùng)
Bình luận (0)
Gửi