rss
Thứ tư, 20/09/2017 | 10:49 GMT+7

Chấn thương phần mềm hay gặp đối với VĐV: Phân loại và sơ cứu ban đầu

Cập nhật 10:03 ngày 25/08/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Chấn thương thể thao là loại tổn thương cấp và mãn tính làm giảm khả năng tập luyện, thi đấu của các đối tượng tham gia thể thao, có nguyên nhân gắn liền với chế độ tập luyện - thi đấu thể thao.

Triệu chứng lâm sàng của chấn thương cơ - gân cơ - dây chằng hay gặp

1. Cơ năng

Ngay tại địa điểm cấp cứu, khi theo dõi diễn biến của quá trình vận động dẫn tới chấn thương chúng ta cũng có thể chẩn đoán sơ bộ khi thấy có các dấu hiệu cơ năng sau:

VĐV giảm hoặc mất khả năng tiếp tục tập luyện, thi đấu khi đang trong trạng thái sung sức: đi - chạy tư thế bất thường, bỏ không thực hiện tiếp được các động tác vận động. VĐV chỉ rõ ngay vị trí cơ - khớp bị chấn thương.

Có các dấu hiệu đặc trưng như: Tiếng “nổ” của cơ, gân bị đứt khi vận động (hay gặp ở VĐV điền kinh), sự va chạm với đối phương hoặc tác nhân bên ngoài trong lúc vận động (chấn thương trong các môn đối kháng, các môn có va chạm với trang thiết bị tập luyện...) thực hiện sai động tác kỹ thuật gây chấn thương (trong các môn thể dục, nhảy cao - nhảy xa)...

Hoàn cảnh bị chấn thương thường sẽ cho thấy mức độ chấn thương và hướng chẩn đoán. Có các trạng thái vận động bất thường ở các mức độ khác nhau.

Có các dấu hiệu sau luôn được VĐV mô tả.

Đau (do tổn thương mô cơ): Có các mức độ khác nhau, đau liên tục hoặc đau khi vận động, cũng có thể chỉ đau khi gắng sức. Đôi khi VĐV chỉ đau trước và sau khi vận động.

Co cứng cơ và khó thực hiện động tác: Có thể thấy VĐV than phiền rằng cơ co tại một vị trí rất dễ thấy (như các cơ lớn vùng đùi, cẳng chân hoặc vùng lưng), đôi khi sự co cứng cơ có thể mơ hồ hoặc khó xác định vị trí do các cơ ở sâu (vùng bụng, thắt lưng chậu, vùng sau đùi) hoặc chỉ có cảm giác khó vận động ở một vài tư thế, động tác đặc biệt (hay gặp đối với VĐV các môn thể dục, bơi, điền kinh và cử tạ).

Sưng nề: Có thể ở các mức độ khác nhau, dấu hiệu sưng nề cơ năng chỉ gặp trong các chấn thương nhẹ và trung bình hoặc trạng thái “quá tải” do lượng vận động, cường độ vận động lớn. Sưng nề cơ năng tự hết và được VĐV mô tả lại, đôi khi không chính xác do sự cảm nhận của VĐV và do cường độ vận động luôn thay đổi.

2. Thực thể

Thăm khám lâm sàng cho thấy, mức độ và định khu tổn thương của cơ, dây chằng. Thường thấy các triệu chứng thực thể và cơ năng đan xen lẫn nhau.

- Đau khi thực hiện các Test kiểm tra biên độ khớp, vận động đối kháng các mức độ khác nhau (mức độ đau được cho điểm theo hệ thống chấm điểm V.A.S, đau do tổn thương mô cơ).

- Bầm tím, sưng nề, tràn dịch khớp các mức độ khác nhau. Cần chú ý với các tổn thương lớn và các nhóm cơ ở sâu, mức độ đau và sự co cứng của mô cơ có ý nghĩa tiên lượng quan trọng. Dấu hiệu bầm tím tại mô cơ bị tổn thương có thể xuất hiện muộn và rất dữ dội vào giờ thứ 24 hoặc 48 sau chấn thương. Ví dụ, các tổn thương cơ vùng mặt sau đùi, cẳng chân. Do vậy, cần đặc biệt chú ý nếu như thấy có sự bất tương xứng giữa mức độ đau và sưng nề khi thăm khám cho VĐV.

- Lỏng khớp các mức độ khác nhau (độ 1, độ 2, độ 3).

- Phát hiện cơ, gân tổn thương đứt rách hoàn toàn hoặc bán phần trong nhiều trường hợp. Thăm khám có thể thấy đầu cơ đứt co ngắn, cơ - gân mất tính liên tục.

- Vận động bất thường là dấu hiệu không đặc hiệu của gãy xương, trật khớp. Tuy nhiên, với một số trường hợp đứt rách gân cơ lớn như gân Achille, cơ tứ đầu đùi, cơ Delta... cũng có thể thấy có những dấu hiệu bất thường trong vận động hoặc mất cơ năng của chi bị tổn thương.

3. Cận lâm sàng

Thường được thực hiện tại các cơ sở có đủ trang thiết bị chẩn đoán, ít khi tiến hành tại địa điểm thi đấu. Tuy nhiên một số thăm dò sau có thể được đề cập tới.

Siêu âm cơ - khớp: Chủ yếu để đánh giá mức độ tổn thương rách cơ, gân cơ, dây chằng và mức độ chảy máu, tràn dịch khớp. Một số trạm cấp cứu hoặc Trung tâm Y học thể thao được trang bị máy siêu âm xách tay sẽ giúp các bác sỹ sớm tiên lượng chính xác khả năng phục hồi cho VĐV, đồng thời có hướng xử trí phù hợp.

Chụp XQ tại chỗ: Nhằm loại trừ các tổn thương khác của xương, màng xương hoặc các chấn thương khác kèm theo.

Các xét nghiệm và thăm dò chức năng khác được tiến hành tại các cơ sở y tế đủ điều kiện và cho chẩn đoán chính xác như MRI, siêu âm đa chiều, ghi hình sinh cơ học...

Chẩn đoán và xử trí

Xử trí ban đầu

Tại địa điểm thi đấu và tập luyện, việc xử trí sơ cấp cứu đối với các chấn thương cơ, khớp có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định mức độ phục hồi của VĐV sau chấn thương.

Theo Hội đồng Y học Ủy ban Olympic quốc tế, Liên đoàn Y học thể thao quốc tế và nhiều Hiệp hội Y học thể thao khác, việc sơ cấp cứu ban đầu gồm có các biện pháp sau (phương pháp R.I.C.E).

R (Rest): Giảm dần hoặc ngừng vận động.

Cho VĐV giảm cường độ tập, ngừng tập với các mức độ khác nhau hoặc có thể tạm dừng hoàn toàn việc tập luyện. Trong thi đấu, nếu xét thấy chấn thương có thể ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc nghi ngờ dẫn đến các ảnh hường nghiêm trọng tiếp sau cho VĐV thì cần ngừng thi đấu.

I (Ice): Chườm lạnh.

Là phương pháp điều trị hiệu quả nhằm giảm đau, giảm sưng nề, phòng tránh viêm dính dẫn tới xơ hóa của các cơ và tổ chức phần mềm bị tổn thương. Tác dụng của chườm lạnh đối với việc nhanh chóng phục hồi tổ chức mô cơ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh.

Có thể sử dụng chườm lạnh dưới các hình thức sau:

+ Dùng các dụng dịch phun bay hơi nhanh hoặc hóa lỏng để làm lạnh cục bộ bộ phận tổn thương: Như dùng bình xịt Ê-te (kelen) xịt lên bề mặt tổn thương. Chú ý không áp sát bình vào vùng chấn thương hoặc cố định lại tại 1 điểm để tránh tai biến bỏng do lạnh gây nên.

+ Dùng đá lạnh: Đây là biện pháp hiệu quả nhất, tiện dụng và an toàn. Chú ý, VĐV chỉ chườm lạnh tới khi có cảm giác giảm đau rõ ràng, không được chườm tới mức tê buốt hoặc mất hẳn cảm giác. Chườm lạnh có thể áp dụng trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày sau khi chấn thương nếu còn đau hoặc sưng nề.

+ Dùng máy chườm lạnh, phòng lạnh: thường chỉ áp dụng tại các cơ sở điều trị, có thể chườm lạnh cục bộ hoặc toàn thân với nhiệt độ xuống tới -600C hoặc thấp hơn.

Băng ép (C: Compression):

Dùng băng chun thể thao hoặc băng vải mềm băng ép lên vùng cơ bị chấn thương, tác dụng để giảm sưng nề và cố định khu vực tổn thương. Hiện nay có nhiều loại băng chuyên dụng để băng các cơ bị tổn thương như các băng đa chiều, băng Kinetic, băng dính đặc hiệu...

Nâng cao tư thế (E: Elevation):

Nhằm tạo ra sự chênh lệch về huyết động tránh sưng nề khi đoạn chi, đầu chi và bộ phận tổn thương được giữ tư thế cao hơn bên đối diện hoặc so với áp lực tương đối của hệ tuần hoàn.

Các bước xử trí tiếp theo:

Tùy theo mức độ chấn thương, VĐV có thể được điều trị bằng các thuốc kháng viêm, giảm đau NON Steroid thông thường, điều trị vật lý trị liệu, tập phục hồi sớm hoặc được điều trị theo các chuyên khoa phù hợp.

Do tính chất phổ biến của các chấn thương thể thao đối với hệ cơ, gân cơ và dây chằng, từ năm 2008, Ủy ban Olympic quốc tế đã có bổ sung các hướng dẫn về Phòng tránh chấn thương (P: Protect) và nâng cao chất lượng điều trị bằng cách khuyến khích VĐV sau khi được sơ cứu ban đầu theo các bước trên cần tiếp tục đến khám tại các cơ sở chuyên khoa Y học thể thao, điều trị tại các bệnh viện hoặc trung tâm Y học thể thao nếu cần (R: Referal). Và từ yêu cầu này, tới nay các bước áp dụng của phác đồ R.I.C.E được bổ sung chuyển thành cụm từ P.R.I.C.E.

(ThS. BS. Nguyễn Văn Phú - Trưởng Tiểu ban Y tế các đội tuyển quốc gia, Phó Giám đốc Bệnh viện Thể thao Việt Nam)

Bình luận (0)
Gửi