rss
Thứ năm, 14/12/2017 | 05:34 GMT+7

Đẩy mạnh phát triển các nguồn lực làm bệ phóng cho thể thao

Cập nhật 09:48 ngày 02/11/2017
(Pháp luật TDTT) - 10 năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động TDTT đạt được nhiều kết quả tích cực. Một số địa phương, HĐND, UBND đã ban hành chế độ miễn, giảm tiền thuê đất đối với các cơ sở xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT.

Việc thực hiện các quy định về nguồn lực phát triển TDTT

10 năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động TDTT đạt được nhiều kết quả tích cực. Một số địa phương, HĐND, UBND đã ban hành chế độ miễn, giảm tiền thuê đất đối với các cơ sở xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển TDTT, nhiều tỉnh, thành phố đã làm khá tốt công tác xã hội hóa đầu tư cơ sở vật chất phục vụ phát triển phong trào TDTT như sân bóng đá mini cỏ nhân tạo, quần vợt, hồ bơi và phòng tập các môn thể dục thẩm mỹ, thể hình… với số kinh phí đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng. Hiện một số địa phương đã thành lập được Quỹ hỗ trợ phát triển tài năng thể thao như Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Giang. Đến nay cả nước có 29.402 sân thể thao phổ thông, 1.311 phòng tập hoặc nhà tập, 600 hồ bơi, bể bơi, 37.760 sân tập từng môn được đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu tập luyện và thi đấu thể thao của nhân dân; có 54.391/118.034 thôn có Nhà Văn hoá - Khu Thể thao thôn, đạt tỷ lệ khoảng 46%, 4.032/11.161 xã, phường, thị trấn có mô hình Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã; 700  xã đạt chuẩn 19 chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, ngân sách nhà nước đầu tư cho TDTT nhìn chung còn thấp, nhất là cấp xã phường rất ít, bình quân từ 2-3 triệu đồng/01 năm. Công tác phân bổ, triển khai việc đầu tư phát triển TDTT còn có hiện tượng dàn trải, trùng lặp, nhỏ giọt. Việc mở rộng, thành lập nhiều Trung tâm Thể thao quốc gia và các cơ sở thể thao ở Sa Pa, Lâm Đồng, Bình Thuận nhưng đầu tư còn nhỏ giọt; một số chức năng của Viện Khoa học TDTT, Bệnh viện thể thao Việt Nam, Trung tâm Doping và Y học thể thao còn trùng lặp (như đều cùng làm về y học thể thao); một số địa phương có sự mất cân đối giữa đầu tư cho thể thao thành tích cao và thể thao quần chúng. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho TDTT đã và đang được các cấp, các ngành quan tâm nhưng khó khăn trong giải phóng mặt bằng, bố trí vốn xây dựng. Một số nơi quy hoạch đất cho TDTT bị thay đổi hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng, cá biệt có nơi còn sử dụng sai mục đích. Trong quy hoạch xây dựng các khu dân cư, các công trình công cộng, trường học, khu vui chơi… chưa gắn với sân tập TDTT cho mọi người. Cơ sở vật chất TDTT không đồng đều, phần lớn ở địa bàn trung tâm. Việc quản lý, sử dụng các cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện cho TDTT hiện có chưa đạt hiệu quả cao hoặc bị xuống cấp nhưng chưa kịp đầu tư sửa chữa. Công tác xã hội hóa, thu hút nguồn lực cho thể thao còn gặp nhiều khó khăn, chưa huy động được các nguồn lực phát triển TDTT. Quỹ hỗ trợ phát triển tài năng thể thao chưa được thành lập ở nhiều địa phương.

 

Hình ảnh: Đẩy mạnh phát triển các nguồn lực làm bệ phóng cho thể thao số 1

Giải bóng chuyền sinh viên toàn quốc cup Toyota

Việc thực hiện các quy định về các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao

Thực hiện các quy định của Luật TDTT, thời gian qua hoạt động của các Liên đoàn thể thao đã từng bước ổn định, một số liên đoàn có bước phát triển đáng ghi nhận như Liên đoàn Bóng đá, Liên đoàn Bóng chuyền… Luật cũng đã tạo cơ sở pháp lý để Liên đoàn trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ như phong cấp VĐV, công nhận thành tích… Hiện cả nước có 2 tổ chức xã hội về TDTT (Uỷ ban Olympic Việt Nam, Hiệp hội Paralympic Việt Nam) và 26 tổ chức xã hội - nghề nghiệp về TDTT là các liên đoàn, hiệp hội thể thao cấp quốc gia của từng môn hoặc một nhóm môn thể thao; trên 200 liên đoàn, hiệp hội thể thao cấp tỉnh là thành viên của liên đoàn cấp quốc gia. Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao đã thường xuyên phối hợp với cơ quan QLNN tổ chức các giải thể thao, tham gia vận động tài trợ đối với hoạt động TDTT, đẩy mạnh phong trào TDTT tại các địa phương, là nguồn cung cấp VĐV năng khiếu để bổ sung phát triển tài năng trẻ thể thao. Trong những năm qua, ngành TDTT đã thường xuyên định hướng, hướng dẫn, tạo điều kiện cho các liên đoàn, hội thể thao hoạt động theo quy định của pháp luật.

Luật TDTT đã xác định nguyên tắc hoạt động của các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp về thể thao là tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của từng loại hình tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều môn thể thao còn chưa có tổ chức liên đoàn hoặc hiệp hội quốc gia, nhiều liên đoàn thể thao quốc gia chưa đủ năng lực thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định. Nhiều liên đoàn thể thao hoạt động cầm chừng, thiếu tính năng động, tự chủ và không hiệu quả. Phần lớn liên đoàn, hội thể thao quốc gia vẫn chưa tự chủ hoàn toàn về tài chính, hoạt động vẫn phải nhận hỗ trợ từ nhà nước dưới nhiều hình thức; một số liên đoàn, hội thể thao phải sử dụng nhờ trụ sở của Tổng cục TDTT; trách nhiệm của các liên đoàn, các đội tuyển, cầu thủ, VĐV đối với xã hội không rõ.

 Cần sửa đổi để phát triển mạnh hơn

Qua thực tiễn triển khai, một số nội dung của Luật TDTT đã bộc lộ bất cập cần sửa đổi như: Việc đánh giá phong trào TDTT quần chúng bằng chỉ tiêu số người tập luyện thường xuyên và gia đình thể thao (Điều 12) là chưa phù hợp, chưa đánh giá chính xác về phong trào TDTT ở cơ sở; đồng thời cũng chưa quy định rõ thẩm quyền ban hành tiêu chí đánh giá nội dung trên phù hợp với từng địa phương. Việc giao thẩm quyền cho UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định một số nội dung có tính chuyên ngành về TDTT là chưa phù hợp (như: quyết định tổ chức giải và phê duyệt Điều lệ giải thi đấu vô địch từng môn thể thao của tỉnh, thành phố (Điều 38, Điều 39); cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp thể thao (Điều 55).

Việc chưa quy định thống nhất giữa cơ quan tổ chức Giải thi đấu vô địch từng môn thể thao cấp tỉnh (Điều 37 là cơ quan QLNN) và cơ quan công nhận kết quả giải (Điều 41 là liên đoàn thể thao quốc gia) dẫn đến một số địa phương cơ quan tổ chức giải không công nhận kết quả giải. Việc quy định giải trẻ quốc gia hàng năm từng môn thể thao và giải thi đấu vô địch từng môn thể thao của cấp tỉnh là giải thi đấu thể thao thành tích cao (Điều 37) là chưa hợp lý vì số lượng các giải này trong năm rất nhiều, chất lượng chuyên môn thi đấu không cao, chỉ mang tính phong trào, gây khó khăn cho công tác phân loại, đánh giá chất lượng và thi đua khen thưởng, đặc biệt là khó khăn trong việc thực hiện quyền của VĐV TTTTC (theo Điều 32).

Việc ban hành các chính sách về phát triển thể dục, thể thao chưa kịp thời, đồng bộ, nên còn hạn chế trong chỉ đạo, điều hành và triển khai thực hiện. Chính sách khuyến khích xã hội hóa TDTT còn chưa sát với thực tiễn nên chưa thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội để phát triển TDTT. Công tác xử lý đối với các vi phạm trong thể thao chưa hiệu quả, chưa có chế tài xử phạt mang tính răn đe cao đối với cả VĐV và các hội cổ động viên. Việc xử lý vi phạm đối với các giải TDTT phong trào ở một số địa phương còn gặp nhiều lúng túng, bất cập do chế tài chưa cụ thể.

(Ths. Nguyễn Hồng Kiên)
Văn phòng Quốc hội
Bình luận (0)
Gửi