rss
Thứ bảy, 20/01/2018 | 12:06 GMT+7

Hoạt động các chức năng của Người giáo viên giảng dạy môn học giáo dục thể chất trong trường Đại học dưới góc độ Tâm lý

Cập nhật 14:17 ngày 28/07/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Chức năng sư phạm là trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học hiện đại, kỹ năng, kỹ xảo về lĩnh vực khoa học GDTC; phát triển trí tuệ và năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, trang bị phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp tự học, tiếp thu cái mới, hình thành thế giới quan khoa học, các chuẩn mực xã hội và các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp...
1. Chức năng sư phạm
 
- Trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học hiện đại, kỹ năng, kỹ xảo về lĩnh vực khoa học GDTC; phát triển trí tuệ và năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, trang bị phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp tự học, tiếp thu cái mới, hình thành thế giới quan khoa học, các chuẩn mực xã hội và các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Do vậy, đòi hỏi người giáo viên  trước hết phải có phẩm chất, năng lực của một nhà giáo, có nhân cách tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, yêu nghề, yêu thương học trò, công bằng, tôn trọng nhân cách của người học. Đồng thời, giáo viên  phải có năng lực chuyên môn tốt, có kiến thức chuyên sâu, làm chủ được tri thức, ham hiểu biết tri thức mới và không ngừng tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ, kỹ năng. Bên cạnh đó, giáo viên phải nắm vững kiến thức và kỹ năng về dạy và học, có phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và trong chuyên ngành GDTC.
 
- Giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng để khuyến khích tính ham hiểu biết của người học, rèn luyện độc lập khám phá trí tuệ, tăng cường khả năng khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức giúp người học đạt được năng lực học suốt đời qua việc tự giáo dục. Để đáp ứng được nhu cầu của dạy và học, giáo viên đại học cần phải có năng lực phẩm chất của một nhà khoa học chân chính và một nhà sư phạm tâm huyết.
 
- Người học ở đại học có những đăc điểm đăc trưng là họ là những người trưởng thành cả về thể chất, tầm lý và nhận thức. Do đó họ phải được ứng xử như người lớn trong mọi hoạt động. Sinh viên là người đã có định hướng về nghề nghiệp gắn với nhu cầu và lợi ích của họ. Vậy nên dạy học làm sao để kích thích được nguyện vong hướng nghiệp của họ. Sinh viên hoàn toàn có khả năng tự học tập, nghiên cứu, tuy nhiên khả năng đó được phát huy thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cách dạy của giáo viên. 
 
- Để góp phần cho hoạt động dạy học đạt kết quả tốt thì phương pháp dạy học phải tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, bồi dưỡng năng lực tự học tập nghiên cứu. Như vậy cũng như các bậc học khác, phương pháp dạy học ở đại học phụ thuộc vào đặc điểm của nội dung, bám sát mục tiêu dạy học, đặc điểm của sinh viên. Khai thác các nguồn lưc sẵn có như thời lượng, tài liệu, trang thiết bị, môi trường và đặc biệt là năng lực chuyên môn và khả năng sư phạm của giáo viên.
 
2. Chức năng điều khiển
 
- Chức năng này tác động có mục đích tới hành vi và hoạt động của người tập trong tập luyện và thi đấu thể thao với mục đích phát triển các tố chất thể lực cần thiết, tối ưu hóa các trạng thái tâm lý và giáo dục nhân cách.
 
- Hoạt động dạy gồm hai chức năng truyền đạt và điểu khiển, luôn luôn tác động và thống nhất với nhau. Dạy phải xuất phát từ logic khoa học của khái niệm và logic sư phạm của tâm lý học lĩnh hội. Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng.
 
+ Giữa dạy với học.
+ Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy.
+ Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học.
Nội dung dạy học là điểm xuất phát của dạy và lại là điểm kết thúc của học. Quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác giữa các chủ thể: thày - cá thể trò, trò - trò trong nhóm, thày - nhóm trò. Sự tương tác theo kiểu cộng đồng hợp tác giữa dạy và học là yếu tố duy trì và phát triển sự thống nhất toàn vẹn của quá trình dạy học, nghĩa là của chất lượng dạy học. Dạy tốt, học tốt chính là bảo đảm được ba phép biện chứng (ba sự thống nhất) nói trên trong hoạt động cộng tác. Đó là sự thống nhất của điều khiển, bị điều khiển và tự điểu khiển, có sự đảm bảo liên hệ nghich thường xuyên bền vững.
 
- Cái khác nhau của các quan niệm dạy học nằm ở chỗ đã nhấn mạnh hơn yếu tố nào trong các chức năng của dạy và học. Theo quan niệm truyền thống nhấn manh chức năng truyền đạt của việc dạy và chức năng lĩnh hội của việc học mà chưa chú ý thích đáng chức năng điều khiển quá trình nhận thức, quá trình lĩnh hội của người học của việc dạy học và tính tích cực, chủ động tự điều khiển quá trình nhận thức của người học trong quá trình học của mình. Ngược lại theo quan niệm về việc dạy học, người ta rất coi trọng yếu tố điều khiển sư phạm của giáo viên, ở đây vai trò của giáo viên đã có sự thay đổi, người giáo viên phải biết gợi mở, hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, từ đó vận dụng chúng. Tuy nhiên, muốn được như vậy cần coi trọng môi trường cộng tác giữa việc dạy và việc học và người học phải biết tự điều khiền quá trình nhận thức của mình thông qua việc tích cực, chủ động, tự lực chiếm lĩnh lấy nội dung học với sự hỗ trợ của người dạy.
 
- Trong hoạt động học, người ta đã thấy được tính thống nhất của hai chức năng vừa thu nhận kiến thức vừa kết hợp với sự tự điều khiển kiến thức của mình. Để hoạt động học thu được kết quả tốt người học không chỉ thu nhận kiến thức mới mà còn phải tích cực, tự điều khiển nhận thức của mình, tức là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo tìm tòi kiến thức mới. Có như vậy thì quá trình tự thu nhận kiến thức của người học mới thu được kết quả cao nhất và hoạt động học sẽ diễn ra một cách tích cực.
 
3. Chức năng kiểm tra, đánh giá
 
- Là đánh giá theo nguyên tắc thông tin ngược chiều và kết quả của những tác động có điều khiển tới người tập.
- Trong giáo dục học, đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục.
Qua cách hiểu trên, đánh giá trong giáo dục không chỉ ghi nhận thực trạng mà còn đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng giáo dục theo chiều hướng mong muốn của xã hội.
 
Trong công tác giáo dục, việc đánh giá được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau và với những mục đích khác nhau.
Cụ thể, việc đánh giá tiến hành ở cấp độ sau:
+ Đánh giá hệ thống giáo dục của một quốc gia.
+ Đánh giá một dơn vị giáo dục.
+ Đánh giá giáo viên.
+ Đánh giá học sinh.
 
Đánh giá có nhiều mục đích khác nhau do đối tượng đánh giá quy định. Trong phạm vi học phần này, chúng ta đề cập đến việc đánh giá mà đối tượng là học sinh.
 
Việc đánh giá học sinh nhằm các mục đích sau:
+ Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kĩ năng, kỉ xão, thái độ của học sinh so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình.
 
+ Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn.
 
+ Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
 
Như vậy việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm
+ Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh.
+ Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giáo viên.
Trong nhà trường, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh được thực hiện thông qua việc kiểm tra và thi theo những yêu cầu chặt chẽ.
 
Vì thế kiểm tra và đánh giá là hai việc luôn đi kèm với nhau tuy rằng không phải mọi việc kiểm tra đều nhằm mục đích đánh giá.
- Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá:
+ Đối với học sinh
Việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành thường xuyên, có hệ thống sẽ giúp học sinh:
• Có hiểu biết kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” bên trong
• Điều chỉnh hoạt động học tập của chính mình.
* Về mặt giáo dưỡng:
Việc kiểm tra, đánh giá giúp các em học sinh thấy được:
 
• Tiếp thu bài học ở mức độ nào?
• Cần phải bổ khuyết những gì?
• Có cơ hội nắm chắc những yêu cầu của từng phần trong chương trình học tập.
• Về mặt phát triển.
Thông qua việc kiểm tra, đánh giá, học sinh có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ như:
• Ghi nhớ
• Tái hiện
• Chính xác hóa
• Khái quát hóa
• Hệ thống hóa
• Hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xão vận dụng tri thức đã học
• Phát triển năng lực chú ý
• Phát triển năng lực tư duy sáng tạo.
 
Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học giải quyết những tình huống thực tế.
 
* Về mặt giáo dục
Kiểm tra, đánh giá tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh:
• Hình thành nhu cầu, thói quen tự kiểm tra, đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và ý chí vươn tới những kết quả học tập ngày càng cao, đềø phòng và khắc phục tư tưởng sai trái như “trung bình chủ nghĩa”, tư tưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ luật tự giác, không có thái độ và hành động sai trái với thi cử.
 
• Củng cố được tính kiên định, lòng tự tin vào sức lực khả năng của mình, đề phòng và khắc phục được tính ỷ lại, tính tự kiêu tự mãn, chủ quan ; phát huy được tính độc lập sáng tạo, tránh được chủ nghĩa hình thức, máy móc trong kiểm tra.
 
• Nâng cao ý thức tập thể, tạo được dư luận lành mạnh, đấu tranh với những tư tưởng sai trái trong kiểm tra, đánh giá, tăng cường được mối quan hệ thầy trò…
 
Như vậy,việc kiểm tra, đánh giá học sinh có các tác dụng đối với học sinh như sau:
• Giúp học sinh phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học tập.
• Củng cố và phát triển trí tuệ cho các em.
• Giáo dục cho học sinh một số phẩm chất đạo đức nhất định .
+ Đối với giáo viên
 
Việc kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho người giáo viên những “thông tin ngược ngoài” , từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp.
• Kiểm tra, đánh giá, kết hợp theo dõi thường xuyên các em tạo điều kiện cho người giáo viên: Nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của từng học sinh trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, trước là đối với học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém, qua đó mà năng cao chất lượng học tập chung của cả lớp
• Kiểm tra, đánh giá được tiến hành tốt sẽ giúp giáo viên nắm được :Trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp
• Những học sinh có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút đột ngột.
 
Qua đó, động viên hoặc giúp đỡ kịp thời các em này.
• Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho thầy giáo xem xét có hiệu quả những việc làm sau:
• Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người giáo viên đang tiến hành.
• Hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường nghiên cứu khoa học giáo dục.
 
Công tác kiểm tra, đánh giá học sinh phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
* Đảm bảo tính khách quan
• Tạo điều kiện để mỗi học sinh bộc lộ thực chất khả năng và trình độ của mình.
• Ngăn ngừa được tình trạng thiếu trung thực khi làm bài kiểm tra…
• Tránh đánh giá chung chung về sự tiến bộ của toàn lớp hay của một nhóm thực hành, một tổ thực tập.
• Việc đánh giá phải sát với hoàn cảnh và điều kiện dạy học.
• Tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ.
* Đảm bảo tính toàn diện
 
Việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo yêu cầu đánh giá toàn diện, thể hiện:
• Số lượng
• Chất lượng
• Kiến thức
• Kĩ năng, kĩ xảo
• Thái độ của từng cá nhân
 
* Đảm bảo tính hệ thống
Việc kiểm tra, đánh giá học sinh phải đảm bảo tính hệ thống, có kế hoạch, thường xuyên. Điều này được thể hiện ở các điểm sau:
• Đánh giá trước, trong, sau khi học xong một phần, một chương, môn học.
• Kết hợp kiểm tra đánh giá thường xuyên, kiểm tra đánh giá định kỳ, tổng kết cuối năm, cuối khóa học.
• Số lần kiểm tra phải đủ mức để có thể đánh giá được chính xác.
* Đảm bảo tính công khai
 
Việc kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành công khai.
• Kết quả kiểm tra, đánh giá phải được công bố kịp thời để mỗi học sinh có thể:
• Tự xếp hạng trong tập thể
• Tập thể học sinh hiểu biết, học tập giúp đỡ lẫn nhau.
• Kết quả kiểm tra, đánh giá phải được ghi vào hồ sơ, sổ sách.
 
          Đỗ Thị Tươi - Đại học Luật Hà Nội
 
Bình luận (0)
Gửi