A PHP Error was encountered

Severity: Notice

Message: MemcachePool::get(): Server localhost (tcp 11211, udp 0) failed with: A connection attempt failed because the connected party did not properly respond after a period of time, or established connection failed because connected host has failed to respond. (10060)

Filename: drivers/Cache_memcached.php

Line Number: 50

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thể dục thể thao
rss
Thứ ba, 14/07/2020 | 13:18 GMT+7

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế thể dục thể thao

Cập nhật 07:27 ngày 18/02/2020
(Kinh tế Thể thao) - Việc nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không chỉ kinh doanh TDTT là tất yếu với nhiều tiềm năng và cơ hội trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia chuyển đổi, tái cơ cấu, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, khu vực mà còn cả tư duy định hình và phát triển một ngành kinh tế mới trong hệ thống của nền kinh tế quốc dân nước ta là ngành công nghiệp thể thao.

Đặt vấn đề

Thực tiễn phát triển kinh tế TDTT của các nước cho thấy, để có thể tăng doanh thu, quy mô và cơ cấu thị trường của nền kinh tế thể dục thể thao (TDTT), các nước thường tận dụng các cơ hội đăng cai giải thi đấu quốc tế lớn để tạo dựng hình ảnh đất nước, phát triển các dịch vụ tư vấn, quản lý thể thao chuyên ngành, củng cố, cải thiện kết cấu hạ tầng cho thể thao, hàng hóa thể thao, và bản quyền truyền thông... Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những đặc điểm riêng về điều kiện, cơ chế chính sách, cũng như cơ hội phảt triển. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế về quản lý và phát triển kinh tế TDTT sẽ giúp rút ra bài học cho công cuộc phát triển kinh tế TDTT ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Thông qua phân tích và tổng hợp tài liệu về kinh tế TDTT của các nước: Mỹ, Anh, Nga, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia cũng như khảo sát thực tế và phỏng vấn, tọa đàm các chuyên gia Trung Quốc, Malaysia (tại Bắc Kinh và Kuala Lumpur), đề tài rút ra được những bài học kinh nghiệm quý giá.

Thực tế phát triển kinh doanh TDTT (ở đây không bàn tới phát triển tự thân hoạt động TDTT) ở nhiều nước trên thế giới có những điểm đáng chú ý như sau:

1. Về nhận thức, cần thấy rằng TDTT, bên cạnh những tác dụng to lớn nhằm tăng cường, nâng cao thể lực và tinh thần của người dân và nguồn nhân lực xã hội, còn là một lĩnh vực kinh doanh có khả năng đem lại thu nhập, việc làm, thậm chí nếu phát triển tốt còn trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trường hợp ở Malaysia (và nhiều nước khác) là minh chứng khi vào những năm đầu của thế kỷ 21, chính phủ nước này quyết định coi “thể thao là một ngành công nghiệp” và nhấn mạnh rằng, “Chúng tôi đảm bảo thể thao có thể biến thành một ngành công nghiệp và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc gia” (trích lời Thủ tướng Malaysia - Abdul Razak), thì ngay sau đó cỗ máy kinh doanh và phát triển TDTT đã được định hình một cách đồng bộ với sự lớn mạnh, phát triển dần theo một chiến lược với sự gắn kết với các ngành kinh tế khác (du lịch, truyền thông, quảng cáo...). Thậm chí, các sự kiện thể thao trong nước, khu vực, quốc tế cũng được nhìn nhận và tận dụng như là các cơ hội tốt cho không chỉ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về thể thao mà còn cả các lĩnh vực khác. Thiết nghĩ, Việt Nam cũng cần có một “tuyên ngôn” rõ ràng như vậy.

Công thức “Hoạt động TDTT + Giá trị kinh tế = Công nghiệp thể thao” mà đoàn nghiên cứu khảo sát tại Malaysia rút ra là thể hiện tư duy hay nhận thức rằng, trong nền kinh tế thị trường hoạt động TDTT có thể kinh doanh như một ngành công nghiệp và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế quốc gia.

2. Sự nhận thức đúng cần được thể hiện và đi liền với việc tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ cho phát triển. Nguyên lý này là chung đối với mọi hoạt động thương mại (kinh doanh), trong đó có kinh doanh TDTT. Trường hợp Trung Quốc (và nhiều nước khác) có thể đáng để học ngay từ cơ sở pháp lý cơ bản là Luật Thể thao của Trung Quốc (ban hành năm 1995) đã xác định, thể thao được thương mại hóa với cụ thể 6 cái “hóa”, trong đó có “pháp chế hóa” tức là coi trọng luật pháp, hình thành các văn bản pháp quy phát triển sự nghiệp và kinh doanh TDTT). Ở các nuớc có nền kinh tể phát triển (Mỹ, Anh, Nga...) thì các nguyên tắc thị trường đã được luật hóa cụ thể, rõ ràng và kinh doanh thể thao là ngành công nghiệp nên hoạt động tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Tại Việt Nam thì thấy rằng, Luật Thể dục, thể thao vẫn chưa hàm định pháp lý rõ ràng cho kinh doanh (hay thương mại hóa) TDTT như vậy, vẫn còn coi TDTT mang nhiều tính chất sự nghiệp: “Phát triển sự nghiệp TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Thể dục, thể thao khoản 1). Thiết nghĩ nên có sự điều chỉnh trong Luật Thể dục, thể thao hiện hành theo hướng kinh doanh (hay thương mại hóa) TDTT.

3. Xác định đúng vai trò của nhà nước trong phát triển kinh doanh TDTT trong đó nhà nước không trực tiếp kinh doanh mà giữ vai trò tạo môi trường kinh doanh (pháp lý) thuận lợi: quản lý, giám sát, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh theo pháp luật và định hướng chiến luợc phát triển với sự hỗ trợ, can thiệp cần thiết nhất định và phù hợp, nhất là đối với những hàng hóa, dịch vụ công cộng mà tư nhân không làm hay không muốn làm vì lý do lợi nhuận hay các khó khăn, rào cản về kinh doanh.

Ở Việt Nam có 2 hoặc 3 loại hình hoạt động TDTT (thương mại, phi thương mại, hỗn hợp) để định vị vai trò của nhà nước cả trong phát triển TDTT và cả trong kinh doanh TDTT khi nền kinh tế quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Tạo dựng và phát triển các nhân tố của kinh doanh thể thao (công nghiệp thể thao), trong đó quan trọng nhất là các tổ chức (doanh nghiệp), cá nhân kinh doanh TDTT tập hợp lại thành hệ thống, mạng lưới sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa dịch vụ TDTT. Kết nối với mạng lưới (hay chuỗi) sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế thì mọi hoạt động kinh doanh đều được liên kết với thị trường khu vực và quốc tế, trong đó mỗi quốc gia (hay doanh nghiệp) phải tìm và định vị được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình trong. Trên thị trường thế giới và khu vực đã định hình các mạng lưới (hay chuỗi) sản xuất, kinh doanh TDTT với các đầu mối kinh doanh chính gắn liền với các tên tuổi lớn (Nike, Adidas, Puma, Reebok...) và các quốc gia (các doanh nghiệp) đi sau trên cơ sở xác định đúng lợi thế so sánh của mình đều có thể tham gia vào các mạng lưới (hay chuỗi) sản xuất, kinh doanh TDTT khu vực hay thế giới, xuất phát từ chính các đặc thù của TDTT là: 1) Nhu cầu về TDTT thuộc loại phổ thông, rất đa dạng và có xu hướng ngày càng tăng, không có điểm bão hòa kéo theo các cơ hội về cung đáp ứng nhu cầu; 2) Sức khỏe, tuổi thọ và tiềm năng của con người là mối quan tâm chính của toàn xã hội mà hoạt động TDTT lại là phương thức quan trọng, tích cực nhất để duy trì, phát triển mà không thay thế được bằng phương thức khác. Sự can thiệp của y tế (dược phẩm, phẫu thuật...) chỉ được coi là hỗ trợ và thụ động mà thôi.

5. Tạo dựng, phát triển và hội nhập thị trường TDTT với thị trường chung của nền kinh tế. Thị trường, theo nghĩa hẹp là sân chơi cho các hoạt động kinh doanh. Do vậy, thị trường TDTT là rất quan trọng để phát triển kinh doanh TDTT. Theo nguyên lý, lý thuyết chung cũng như kinh nghiệm thực tế của các nước, cần chú ý tới các yếu tố sau: cơ sở pháp lý cho kinh doanh, bao gồm cả chính sách, cơ chế kinh doanh; các chủ thể kỉnh doanh; các hỗ trợ cần thiết từ phía nhà nước; và các kết nối hội nhập (khu vực, quốc tế).

Một cấu trúc thị trường TDTT đầy đủ (như ở các nước phát triển) gồm các phân khúc: Kiến trúc xây dựng sản xuất chế tạo công trình thể thao; tổ chức sự kiện thi đấu TDTT; biểu diễn TDTT; xổ sổ, cá cược thể thao; kinh doanh địa ốc thể thao; kinh doanh hàng hóa thể thao; du lịch thể thao; truyền thông thể thao; quảng cáo thể thao, môi giới thể thao,...

6. Coi trọng phát triển hoạt động TDTT như là nhu cầu cho kinh doanh TDTT. Hoạt động TDTT là đối tượng mà kinh doanh nhắm vào phục vụ. Mối quan hệ qua lại này nói lên rằng, hoạt động TDTT phải được phát triển như tiền đề tạo nhu cầu cho phát triển kinh doanh TDTT. Do vậy, bên cạnh phát triển các hoạt động TDTT trong nước, việc tích cực tổ chức và tham gia các sự kiện thể thao khu vực, quốc tế là rất cần thiết và được coi là một nội dung quan trọng không chỉ của hoạt động TDTT mà của cả kinh doanh TDTT. Kinh nghiệm của Malaysia nêu ở trên (và của các quốc gia khác) cho thấy, ngay từ năm 1998, Malaysia đã nhận đăng cai và tổ chức thành công Đại hội Thể thao Khối thịnh vượng chung (Commonwealth Games lần thử 16), sau đó đã liên tiếp đến nay nhận đang cai tổ chức nhiều sự kiện thể thao khu vực và quốc tế lớn định kỳ (1 năm hoặc một số năm). Điều này giúp nâng cao uy tín của quốc gia với quốc tế và sử dụng tốt cơ sở kết cấu hạ tầng TDTT sẵn có cũng như các đầu tư mới, kéo theo các cơ hội kinh doanh. Kích cầu thông qua phát triển các hoạt động TDTT cũng chính là kích cung đối với kinh doanh TDTT. Một số ưu đãi mang tính chất kích cầu TDTT mà Malaysia đang áp dụng được nêu trên đáng được suy ngẫm và áp dụng phù hợp ở Việt Nam.

7. Về tổ chức quản lý, đối với các nền kinh tế chuyển đổi, để hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và nhanh chóng hơn thì một cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách chăm lo không chỉ phát triển TDTT mà còn cả kinh doanh TDTT là cần thiết khách quan như kinh nghiệm các nước Trung Quốc, Malaysia, Nga, Thái Lan... Đó có thể là Bộ hay Ủy ban nhà nước chuyên ngành về TDTT hay đa ngành (phối hợp cùng với một hay nhiều ngành khác), nhưng quan trọng là có hệ thống quản lý nhà nước về TDTT cả ở cấp Trung ương (quốc gia) và địa phương (tỉnh, thành phố,...). Kinh doanh TDTT như là ngành kinh tế (công nghiệp thể thao), nhìn từ giác độ quản lý nhà nước về kinh tế, ở một nền kinh tể đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng thị trường (ở nền kinh tế thị trường phát triển thì câu chuyện là khác hơn) thì không thể không có một cơ quan (tổ chức) chuyên trách chăm lo cho công tác phát triển kinh doanh TDTT.

8. Nếu xét từ giác độ cần tránh gì thì có thể nói rằng, những bài học được rút ra như đã nêu trên cũng đã hàm chứa những điều cần tránh. Trong đó, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cho tạo dựng và phát triển kinh tế TDTT là coi hoạt động TDTT là hoạt động kinh tế mà không chỉ là hoạt động sự nghiệp chỉ do hoặc chủ yếu do nhà nước chăm lo, đảm nhiệm. Cái cần tránh mang tính chất nhận thức, nền tảng đó là nhà nước chỉ làm những gì mà tư nhân không muốn làm (vi lý do lợi ích, lợi nhuận kinh tế) mà thôi.

Kết luận

Việc nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không chỉ kinh doanh TDTT là tất yếu với nhiều tiềm năng và cơ hội trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia chuyển đổi, tái cơ cấu, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, khu vực mà còn cả tư duy định hình và phát triển một ngành kinh tế mới trong hệ thống của nền kinh tế quốc dân nước ta là ngành công nghiệp thể thao. Các nghiên cứu về lý luận, kinh nghiệm quốc tế sẽ là căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp trong công tác định hình và phát triển ngành kinh tế TDTT ở nước ta trong thời gian tới, bao gồm tạo căn cứ pháp lý, điều chỉnh chiến lược phát triển đến xây dựng Đề án quốc gia với lộ trình phát triền kinh doanh và thị trường TDTT.

GS. TS Nguyễn Đại Dương - PGS. TS Đặng Văn Dũng

Bình luận (0)
Gửi