rss
Thứ bảy, 20/10/2018 | 06:01 GMT+7

LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI THỂ LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Cập nhật 11:10 ngày 16/09/2018
(Lý luận & Thực tiễn) - Khám sức khoẻ và kiểm tra thể lực là hai phương pháp được lựa chọn để phân loại sức khoẻ. Việc lựa chọn hai phương pháp này có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của quá trình giáo dục thể chất. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích sự cần thiết của việc phân loại thể lực và thực trạng thể lực của sinh viên trường Đại học Quảng Bình. Từ đó sử dụng song hành hai phương pháp phân loại nhằm xác định chính xác những sinh viên có thể lực yếu, góp phần giúp các nhà sư phạm xây dựng những nội dung học tập phù hợp, từng bước cải thiện, nâng cao thể lực cho họ.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong xu hướng hội nhập và phát triển sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ khoa học kỹ thuật và giáo dục hội đủ các năng lực làm việc là yêu cầu tất yếu của xã hội. Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có tác phong lành mạnh, có sức khoẻ tốt nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việc phân loại thể lực cho sinh viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, đây là những yêu cầu khách quan cần thiết để lựa chọn các nội dung phù hợp, nâng cao chất trình độ thể lực của sinh viên, thực hiện tốt mục tiêu đào tạo nói chung và của giáo dục thể chất nói riêng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp sau: phương pháp phỏng vấn tọa đàm, phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, phương pháp kiểm tra sư phạm, phương pháp toán học thống kê.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm và các tiêu chuẩn trong phân loại thể lực

1.1. Đặc điểm tố chất thể lực

Bên cạnh các yếu tố hiểu biết, đạo đức, ý chí, kỹ thuật và chiến thuật, thể lực là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động của con người. Việc rèn luyện thể lực là một trong hai đặc điểm cơ bản, nổi trội của quá trình Giáo dục thể chất. Bởi vậy khi giảng dạy nghiên cứu thể lực đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc bản chất bên trong của thể lực, từ đó xây dựng phương pháp giáo dục, huấn luyện hợp lý để đạt được mục đích chung của quá trình Giáo dục thể chất, đó là tăng cường và nâng cao sức khoẻ, phát triển thể chất cân đối, hài hoà, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa [3].

Do đặc điểm tâm - sinh lý của từng lứa tuổi, bậc học, cấp học đều có các nội dung giảng dạy khác nhau, nên đa số đều đòi hỏi phát triển toàn diện các tố chất thể lực, trong các môn thể thao mỗi môn đều có những tố chất thể lực chuyên môn chiếm ưu thế, chúng có thể tương đối thuần nhất như sức mạnh ở cử tạ, hoặc kết hợp giữa sức mạnh và tốc độ trong chạy cự ly ngắn…., vậy tố chất thể lực là những đặc điểm, các mặt tương đối riêng biệt trong thể lực của con người và thường được chia thành các loại cơ bản, đó là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo [5].

1.2. Đặc điểm thể lực yếu của sinh viên

Đặc điểm của thể lực hay còn gọi là tố chất vận động nó đều có các mặt biểu hiện, nhưng do hoàn cảnh sống, do sự phát triển của mỗi con người khác nhau mà các tố chất trên phát triển không giống nhau, có người có sức mạnh, nhưng sức bền lại không có; có người có tốc độ nhưng sức mạnh lại không..., vì vậy khi đề cập đến việc phân loại để xác định thể lực yếu không đơn giản chỉ sử dụng một phương pháp nào đó đánh giá toàn diện cho tất cả các đối tượng. Qua thực tế giảng dạy và trao đổi với các chuyên gia có kinh nghiệm ở các trường Đại học cho thấy: đặc điểm thể lực yếu của sinh viên về cơ bản có liên quan đến khả năng vận động với các bài tập thể lực theo chương trình bị giới hạn; những em khả năng vận động bị hạn chế do các căn bệnh bẩm sinh, mãn tính hoặc do rủi ro trong cuộc sống lao động gây ra…., điều này nếu áp dụng chung trong một chương trình đào tạo sẽ không phù hợp với các trường hợp nêu trên. Trong khi đó mục tiêu của giáo dục thể chất là góp phần bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, giúp phát triển cả về thể chất lẫn tâm hồn, đồng thời giáo dục thể chất trong trường học giúp cho sinh viên năng động, hưng phấn hơn trong học tập, là giây phút giảm tải trong học tập các môn học văn hoá, chuyên môn [3].

1.3. Các tiêu chuẩn phân loại

Tiêu chẩn đánh giá phân loại sức khỏe, thể lực bao gồm: Quyết định số 1613/BYT-QĐ của Bộ trưởng Bộ y tế về việc ban hành “Tiêu chuẩn phân loại sức khoẻ để khám tuyển, khám định kỳ cho người lao động” ngày 15 tháng 08 năm 1997 [2]; Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định “Tiêu chẩn phân loại thể lực, sức khỏe của sinh viên”. [1]. Ngoài ra thông qua kết quả nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực khoa học Giáo dục thể chất và Thể dục thể thao cho thấy: để phân loại sức khỏe thể lực của sinh viên có nhiều tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn và tọa đàm các chuyên gia có kinh nghiệm để kiểm tra thể lực bằng các test vận động sau khi tiến hành kiểm nghiệm.

2. Nguyên tắc và kết quả lựa chọn các test đánh giá thể lực của sinh viên

     Quá trình lựa chọn dựa vào nguyên tắc là những test được sử dụng trong quá trình nghiên cứu phải đảm bảo độ tin cậy và tính thông báo; phù hợp với thực tiễn địa phương, điều kiện cơ sở vật chất của trường cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của sinh viên; các test được lựa chọn phải có tính khả thi, nghĩa là sau khi được phỏng vấn các giảng viên, huấn luyện viên, các chuyên gia, từ đó sẽ loại bỏ các test có tính ứng dụng thấp.Dựa vào kết quả phỏng vấn các chuyên gia cho thấy, để đánh giá thể lực của sinh viên phải kết hợp vừa khám sức khoẻ vừa kiểm tra thể lực mới đảm bảo độ chính xác.

     Kết quả tổng hợp các test đánh giá thể lực cho sinh viên:thông qua phương pháp phỏng vấn các giảng viên và các tài liệu chuyên môn cũng như trao đổi với các cộng tác viên đã thu thập, phân tích, tổng hợp để lựa chọn các test sau đưa vào nghiên cứu. Đây là những chỉ tiêu, những test đã được nhiều tác giả sử dụng để nghiên cứu trong giáo dục thể chất (gồm 27 test). Thông qua phương pháp phỏng vấn để lựa chọn các test đánh giá thể lực cho sinh viên, kết quả là đề tài đã lựa chọn được 14 test do chuyên gia đánh giá cao với tỷ lệ đạt trên 80%, còn lại 13 test dưới 80%. Như vậy, từ kết quả phỏng vấn đề tài đã quyết định lựa chọn các test có kết quả phỏng vấn cao để kiểm tra thể lực cho sinh viên đại học Quảng Bình.

3. Đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên Trường Đại học Quảng Bình

3.1. Kết quả khám, kiểm tra sức khoẻ đầu khoá học

       Kết quả được trình bày ở bảng 1

Bảng 1. Kết quả khám, kiểm tra sức khoẻ đầu khoá học của trường Đại học Quảng Bình

 

TT

CÁC NỘI DUNG KHÁM

NAM (N = 184)

NỮ (N =256)

Loại I

Loại II

Loại III

Loại  IV

Loại  V

Loại   I

Loại  II

Loại III

Loại IV

Loại V

1

Chiều cao

60

88

30

04

02

107

81

51

15

02

2

Cân nặng

82

68

28

04

02

102

90

49

12

03

3

Vòng ngực TB

71

76

28

07

02

116

84

40

14

02

4

Huyết áp tối đa

122

28

34

0.0

0.0

104

100

47

0.0

0.0

5

Huyết áp tối thiểu

162

49

45

0.0

0.0

100

103

48

0.0

0.0

6

Mắt không kính

150

15

12

06

01

169

51

23

11

02

7

Hệ vận động

Bình thường

Khuyết tật

Bình thường

Khuyết tật

182

02

252

04

8

Bộ phận thần kinh

Bình thường

Khuyết tật

Bình thường

Khuyết tật

184

 

256

0.0

     Phân tích kết quả cho thấy: nhóm sức khoẻ loại V có 11 sinh viên (05 nam, 06 nữ), trong đó 05 sinh viên có 2 nội dung khám xếp được ở loại này. Nhóm sức khoẻ loại IV có 58 sinh viên (20 nam, 38 nữ), trong đó có 15 sinh viên có 2 nội dung khám xếp ở loại này. Các sinh viên bị khuyết tật ở bộ phận cử động xương cốt và bộ phận thần kinh là 06 (02 nam, 04 nữ).

3.2. Kiểm tra thể lực của sinh viên thông qua các chỉ tiêu đã được kiểm định

     Căn cứ vào kết quả phỏng vấn đề tài tiến hành sử dụng các test để kiểm tra thể lực của sinh viên, đồng thời trên cơ sở thực tế của công tác khám sức khoẻ, có những sinh viên khuyết tật ở các bộ phận xương cốt và hệ thần kinh thì không thể kiểm tra đầy đủ các nội dung kiểm tra, số lượng cụ thể 182 nam, 252 nữ, kết quả kiểm tra được trình bày ở bảng 2.

Bảng 2. Thực trạng thể lực của sinh viên trường Đại học Quảng Bình

TT

CÁC TEST KIỂM TRA

   

Min

Max

Cv%

 

A

NAM

n = 182

1

Chiều cao đứng (cm)

162.14

6.77

45.77

148

178

4.18

0.006

2

Cân nặng  (kg)

49.59

6.0

35.94

37

65

12.1

0.018

3

Vòng ngực trung bình (cm)

79.91

4.63

21.45

69

92

5.79

0.008

4

Thông khí phổi tối đa (lít)

90.68

4.00

15.99

83

97

4.41

0.006

5

Dung tích sống (m/l)

2.93

0.61

0.38

1.5

4.3

20.82

0.03

6

Tần số mạch đập (lần)

76.18

9.39

88.19

65

94

12.33

0.015

7

Bật xa tại chỗ (cm)

209.84

22.07

487.19

165

268

10.52

0.012

8

Lực bóp tay thuận

45.36

5.47

29.89

31

58

12.06

0.02

9

Nằm ngửa gập cơ bụng (lần)

20.15

3.16

10.02

8.0

25

15.68

0.02

10

Chạy 30m xuất phát cao (cm)

4.92

0.42

0.17

4.11

5.82

8.54

0.01

11

Chạy con thoi 4 x10m (giây)

10.76

1.01

1.02

8.91

12.65

9.39

0,013

12

Chạy 1500m (phút)

5.25

0.37

0.14

4.77

6.31

7.05

0.01

13

Chạy 7 phút tuỳ sức (m)

1328.08

45.69

2087.57

1220

1370

3.44

0.005

14

Đứng gập thân sâu về trước (cm)

17.04

4.49

20.19

4.0

23

26.35

0.038

B

NỮ

n = 252

1

Chiều cao đứng (cm)

152.18

6.04

36.44

141

169

3.97

0.004

2

Cân nặng  (kg)

43.77

3.74

13.99

36

58

8.54

0.010

3

Vòng ngực trung bình (cm)

76.49

4.89

23.94

67

93

6.39

0.008

4

Thông khí phổi tối đa (lít)

74.48

3.75

14.06

68

86

5.03

0.006

5

Dung tích sống (m/l)

2.14

0.46

0.21

1.1

3.8

21.5

0.030

6

Tần số mạch đập (lần)

79.07

8.65

74.83

63

95

10.94

0.008

7

Bật xa tại chỗ (cm)

155.13

4.97

24.72

144

180

3.2

0.003

8

Lực bóp tay thuận

28.38

4.26

18.12

20

38

15.01

0.018

9

Nằm ngửa gập cơ bụng (lần)

12.98

3.07

9.45

6

17

23.65

0.019

10

Chạy 30m xuất phát cao (cm)

5.97

0.48

0.23

4.99

7.02

8.04

0.009

11

Chạy con thoi 4 x10m (giây)

12.50

0.32

0.1

11.66

13.31

2.56

0.003

12

Chạy 800 m (phút)

4.78

0.4

0.16

4.07

8.01

8.37

0.010

13

Chạy 5 phút tuỳ sức (m)

872.46

25.02

625.8

815

905

2.87

0.003

14

Đứng gập thân sâu về trước

15.85

5.01

25.1

5.0

26

31.6

0.040

4. Phương pháp phân loại trình độ thể lực của sinh viên

      Từ kết quả khám kiểm tra sức khỏe, đề tài xác định được đối tượng để kiểm tra thể lực là 434 em (182 nam, 252 nữ), trong đó có 69 sinh viên xếp loại IV và V cũng được kiểm tra bình thường.

      Để phân loại đánh giá và kiểm định kết quả kiểm tra thể lực đề tài sử dụng phương pháp tính điểm theo thang độ C (thang điểm 10) để lập ra tiêu chuẩn đánh giá từng chỉ tiêu.Dựa vào bảng điểm tính theo thang độ C đã tổng hợp tất cả 14 chỉ tiêu và phân loại theo các mức (tốt, khá, trung bình, yếu và kém), cụ thể: loại tốt có số điểm đạt từ 112 đến 140 điểm; loại khá có số điểm đạt từ 84 đến cận 112 điểm; loại trung bình có số điểm đạt từ 56 đến cận 84 điểm; loại yếu kém có số điểm đạt từ 0 đến cận 56 điểm, trình tự và nguyên tắc xếp lại như sau: (1) Các sinh viên phải kiểm tra đầy đủ tất cả 14 test; (2) Kết quả kiểm tra dựa vào bảng 3 để tính điểm theo từng chỉ tiêu. Kết quả kiểm tra được trình bày tại bảng 3.

Bảng 3. Phân loại thể lực theo từng chỉ tiêu của sinh viên

TT

CÁC TEST KIỂM TRA

XẾP LOẠI

Tốt

Khá

TB

Yếu, kém

A

NAM

n = 182

1

Chiều cao đứng (cm)

174

167 - 173

161 - 166

  160

2

Cân nặng  (kg)

64

57  - 63

51 - 56

 50

3

Vòng ngực trung bình (cm)

91

85 - 90

80 - 84

 79

4

Thông khí phổi tối đa (lít)

97

95 - 96

91 - 94

 90

5

Dung tích sống (lít)

 4.1

36 - 40

3.0 - 3.5

2.9

6

Tần số mạch đập (lần)

 65

66 - 70

71 - 80

81

7

Bật xa tại chỗ (cm)

266

234 - 265

210 - 233

 209

8

Lực bóp tay thuận

58

51 - 57

46 - 50

 45

9

Nằm ngửa gập cơ bụng (lần)

16

13 - 15

11 -12

10

10

Chạy 30m xuất phát cao (cm)

4.11

4.12 - 4.5

4.51 - 4.91

4.92

11

Chạy con thoi 4 x10m (giây)

8.91

892 - 9.65

9.66 - 10.56

10.57

12

Chạy 1500m (phút)

4.77

4.78 - 490

491 - 5.40

4.55

13

Chạy 7 phút tuỳ sức (m)

 1350

1315 - 1345

1270 - 1310

1265

14

Đứng gập thân sâu về trước (cm)

 23

21 - 22

17 -20

16

B

NỮ

n = 252

1

Chiều cao đứng (cm)

 165

160 -164

153 - 159

 152

2

Cân nặng  (kg)

 56

49 - 55

44 - 47

 43

3

Vòng ngực trung bình (cm)

 87

82 - 86

77 - 81

 76

4

Thông khí phổi tối đa (lít)

 83

79 - 82

75 - 78

 74

5

Dung tích sống (lít)

 3.5

3.0 - 3.4

2.2 – 2.9

 2.1

6

Tần số mạch đập (lần)

< 63

64 - 70

71 - 79

 80

7

Bật xa tại chỗ (cm)

 167

161 - 166

156 - 160

 155

8

Lực bóp tay thuận

37

33 - 36

29 -32

 28

9

Nằm ngửa gập cơ bụng (lần)

16

14 - 15

12 - 13

 11

10

Chạy 30m xuất phát cao (cm)

 5.01

5.02 - 5.49

5.5 - 5.92

 5.93

11

Chạy con thoi 4 x10m (giây)

 11.66

11.67- 12.15

12.16- 12.45

 12.46

12

Chạy 800 m (phút)

 4.07

4.08 - 4.38

4.39 - 4.78

 4.79

13

Chạy 5 phút tuỳ sức (m)

 895

875 - 890

845 - 870

 845

14

Đứng gập thân sâu về trước (cm)

 24

20 - 23

15- 19

 14

     Trên cơ sở của bảng 3 đã phân loại thể lực của sinh viên cụ thể như sau: Đối với nam,loại tốt có 11 sinh viên, chiếm tỷ lệ 6.04%; loại khá có 45 sinh viên, chiếm tỷ lệ 24.72%; loại trung bình có 102 sinh viên, chiếm tỷ lệ 56.59%; loại yếu, kém có 24 sinh viên, chiếm tỷ lệ 13.19%. Đối với nữ,loại tốt có 6 sinh viên, chiếm tỷ lệ 2.38%; loại khá có 70 sinh viên, chiếm tỷ lệ 27.77%; loại trung bình có 137 sinh viên, chiếm tỷ lệ 54.37 %; loại  yếu, kém có 39 sinh viên, chiếm tỷ lệ 15.48 %.

5. Đánh giá sự phù hợp giữa khám sức khoẻ và kiểm tra thể lực

     Kết quả kiểm tra sức khoẻ đầu khoá học là giúp cho sinh viên biết được tình trạng sức khoẻ, từ đó xây dựng cho mình cách thức điều chỉnh hợp lý trong học tập. Tuy nhiên kết quả kiểm tra sức khoẻ không thể phản ánh toàn diện các mặt thể lực của sinh viên, vì các nội dung chủ yếu của khám sức khoẻ chỉ tập trung khám khi cơ thể ở trạng thái tĩnh. Ở trạng thái vận động, có thể có những sinh viên khi khám sức khoẻ chi xếp loại V ở một nội dung nào đó nhưng khi vận động thể lực thì lại xếp ở loại I, II.

     Cả hai nội dung kiểm tra đã làm tăng thêm độ tin cậy và tính thông báo, đồng thời làm cơ sở để xây dựng các nội dung bài tập cho phù hợp với sinh viên có thể lực yếu của Nhà trường. Tuy nhiên có 06 sinh viên khuyết tật do bẩm sinh-di truyền, tai nạn lao động...nên không thể thực hiện đầy đủ những nội dung kiểm tra thể lực, đối tượng này sẽ được xếp vào loại đặc biệt.

     Kêt quả kiểm tra thể lực đã phân loại và lựa chọn được 63 sinh viên có thể lực yếu (trong đó có 24 nam và 39 nữ), những sinh viên này cộng với 06 sinh viên (02 nam, 04 nữ) đã trình bày ở trên sẽ được tổ chức học tập theo hình thức chuyên biệt với nội dung chương trình phù hợp, từ đó từng bước cải thiện thể lực cho họ.

KẾT LUẬN        

     1. Từ thực tiễn phân tích cho thấy sự cần thiết phải phân loại sức khỏe là công việc hết sức quan trọng, giúp cho các giảng viên hoạch định được chương trình và kế hoạch giảng dạy, cũng như sử dụng phương pháp khám sức khoẻ và kiểm tra thể lực để phân loại sức khoẻ của sinh viên trong các trường học.

     2. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tỷ lệ chênh lệch giữa 2 phương pháp là không đáng kể, cụ thể số ít sinh viên khi khám sức khoẻ thuộc vào nhóm IV và nhóm V nhưng khi tham gia các test kiểm tra thể lực thì được xếp loại ở mức từ trung bình trở lên.

     3. Đề tài đã phân loại và lựa chọn được 69 sinh viên có thể lực yếu (trong đó có 26 nam và 43 nữ), những sinh viên này được đề xuất học tập theo hình thức chuyên biệt với nội dung chương trình phù hợp, từ đó từng bước cải thiện thể lực cho họ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực của học sinh, sinh viên

[2]. Bộ y tế (1997), tiêu chuẩn sức khoẻ phân loại để khám tuyển, khám định kỳ học sinh, sinh viên các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề và lao động ở các nghề, công việc

[3] Đào Hùng, Nguyễn Mậu Loan (1997), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất - NXB Giáo dục

[4]. Dương Ngiệp Chí, Trần Đức Dũng, Tạ Hữu Hiếu, Nguyễn Đức Văn (2004), Đo lường thể thao, NXB thể dục thể thao, Hà Nội.

[5]. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006), Lý luận và phương pháp thể dục thể thao, NXB thể dục thể thao, Hà Nội.

TS. Trần Thủy – Giảng viên trường đại học Quảng Bình
TS. Lê Hồng Sơn – Trung tâm huấn luyện TDTT Đà Nẵng
Bình luận (0)
Gửi