rss
Thứ năm, 20/09/2018 | 22:33 GMT+7

Luật sửa đổi một số điều của Luật Thể dục, thể thao: Xương sống của sự phát triển!

Cập nhật 14:10 ngày 15/05/2018
(Pháp luật TDTT) - Nếu Luật Thể dục, thể thao sửa đổi được Quốc hội thông qua trong kỳ họp tháng 5, thì sẽ có tác dụng to lớn trong việc làm xương sống cho cả hệ thống TDTT của nước nhà phát triển về mọi mặt. Sau 11 năm ra đời và đi vào cuộc sống, Luật Thể dục, thể thao đã bộc lộ nhiều điểm cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cũng như xu thế phát triển của TDTT Việt Nam… TDTT cho mọi người và những điều chỉnh căn bản

 

Hình ảnh: Luật sửa đổi một số điều của Luật Thể dục, thể thao: Xương sống của sự phát triển! số 1

Điều 11 về “Phát triển TDTT quần chúng”,

Bổ sung Khoản 3a quy định rõ trách nhiệm đối với các địa phương trong xây dựng cơ sở vật chất TDTT:

3a. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo đảm nguồn lực để xây dựng các công trình thể thao công cộng tại địa phương theo quy định sau:

a) Mỗi thôn, làng, ấp, bản phải có sân tập thể thao đơn giản;

b) Mỗi xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) phải có ít nhất một công trình TDTT cấp xã: Sân vận động; Sân tập thể thao; Nhà tập luyện, thi đấu thể thao; bể bơi; các công trình thể thao khác;

c) Mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) phải có ít nhất ba công trình TDTT cấp huyện: Sân vận động; Nhà tập luyện, thi đấu thể thao; bể bơi;

d) Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có các công trình TDTT cấp tỉnh: Sân vận động; Nhà tập luyện, thi đấu thể thao; bể bơi.

 Bộ VHTTDL chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn tiêu chuẩn các công trình TDTT công cộng và công nhận các địa phương có đủ số lượng công trình theo quy định.”

Bổ sung mục 6 nêu rõ “Tổ chức, cá nhân được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật khi thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng, khai thác các công trình TDTT công cộng, các công trình TDTT phục vụ hoạt động thể thao cho người khuyết tật, người cao tuổi”.

Điều 13, sửa đổi Khoản 1, bổ sung thêm những quyết định thuộc quyền hạn Thủ tướng:

“1. Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức:

a)  Các Đại hội thể dục thể thao khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho các đối tượng học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang, người khuyết tật.

b) Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc.”

Bổ sung Khoản 2a, 2b nêu rõ trách nhiệm của lãnh đạo các Bộ và cơ quan ngang Bộ:

“2a. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định tổ chức các giải thể dục thể thao quần chúng toàn quốc.

2b. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ chỉ đạo tổ chức hoạt động thể dục, thể thao của Bộ, ngành.”

Một điều rất đáng chú ý là Luật sửa đổi, bổ sung có hàng loạt điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về TDTT trong trường học - một trong những điều bất cập bấy lâu nay do những khiếm khuyết trong Luật cũ.

Điều 21 về “Trách nhiệm của Nhà nước đối với TDTT trong nhà trường” bổ sung chi tiết khoản 2:

“2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:

a) Quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị thể dục thể thao cho hoạt động GDTC ở các cấp học;

b) Quy định số lượng, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với giáo viên, giảng viên thể dục thể thao của từng cấp học;

c) Xây dựng, ban hành chương trình giáo dục thể chất, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên thể dục thể thao, hướng dẫn nội dung hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường.”

Điều 22 về “Trách nhiệm về nhà trường” sửa đổi khoản 2 và 3 nêu rõ:

“2. Đảm bảo giáo viên, giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Tổ chức cho người học tham gia các hoạt động thể thao ngoại khoá; tạo điều kiện cho học sinh khuyết tật tham gia các hoạt động thể thao phù hợp.”

Điều 25 về “Thi đấu thể thao trong nhà trường” sửa khoản 1 và bổ sung khoản 2a theo hướng ràng buộc cụ thể hơn như sau:

“1. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo các cấp có trách nhiệm tổ chức thi đấu thể thao để động viên phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên.”

 “2a. Nhà trường có trách nhiệm tổ chức mỗi năm ít nhất một cuộc thi đấu thể thao toàn trường.”

 Thể thao thành tích cao và những điều chỉnh quan trọng

Điều 32. “Quyền và nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao”: Bổ sung thềm quyền cho các VĐV, đáng chú ý có mục

32. e) Được học tập văn hoá, chính trị, chuyên môn;

Mục i) Trường hợp VĐV đội tuyển quốc gia bị tai nạn trong khi tập luyện, thi đấu thể thao làm mất khả năng lao động hoặc chết thì VĐV và thân nhân của họ được hưởng chế độ trợ cấp.

Điều 33. “Quyền và nghĩa vụ của huấn luyện viên thể thao thành tích cao” Quy định cụ thể

Điều 38 quy định rõ hơn về “Thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao thành tích cao” theo từng cấp độ từ Thủ tướng tới Bộ trưởng Bộ VHTTDL, Chủ tịch UBND các tỉnh - thành...

Bổ sung điều 39.a về “Thẩm quyền ban hành luật thi đấu thể thao” nêu rõ

1. Liên đoàn thể thao quốc gia quyết định ban hành luật thi đấu của môn thể thao sau khi được Bộ VHTTDL phê duyệt.

2. Đối với những môn thể thao chưa thành lập Liên đoàn thể thao quốc gia, Bộ trưởng Bộ VHTTDL quyết định ban hành luật thi đấu của môn thể thao đó.”

Điều 39, sửa đổi các khoản 3 và 4 như sau:

“3. Chủ tịch liên đoàn thể thao quốc gia phê duyệt điều lệ giải thể thao quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều 37 của Luật này.

 Đối với những môn thể thao chưa có tổ chức liên đoàn, hiệp hội thể thao, Bộ trưởng Bộ VHTDTT phê duyệt điều lệ giải thể thao quy định tại các khoản 3, 4  và 5 Điều 37.

Điều 40 quy định rõ hơn về “Đăng cai tổ chức giải thể thao thành tích cao”, trong đó nêu rõ yêu cầu phản hồi của các cơ quan chức năng trong việc cấp phép:

 “2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, người có thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quy định tại khoản 1, 2 Điều 37 của Luật này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, nếu không cho phép phải nêu rõ lý do.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, người có thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quy định tại khoản 3, 4, 5 và 6. Điều 37 của Luật này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, nếu không cho phép phải nêu rõ lý do.”

 Thể thao chuyên nghiệp: Mở cửa cho xu thế phát triển mới

Điều 44 về “Phát triển thể thao chuyên nghiệp” nêu rõ quan điểm như sau:

“2. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân, thành lập các CLB thể thao chuyên nghiệp, đào tạo vận động viên, huấn luyện viên và tổ chức thi đấu thể thao chuyên nghiệp” (Luật cũ chỉ nêu rõ phần thành lập CLB).

Điều 48 về “Hợp đồng chuyển nhượng VĐV chuyên nghiệp”, bổ sung khoản 3, trong đó nêu rõ một xu thế mới về “người đại diện” như sau:

“3. Hợp đồng chuyển nhượng VĐV chuyên nghiệp có thể được ký kết thông qua người đại diện trung gian.

Đại diện trung gian được hưởng hoa hồng theo quy định của pháp luật và được cấp phép hành nghề theo quy định của Liên đoàn thể thao quốc gia, Liên đoàn thể thao quốc tế của môn thể thao đó.”.

Điều 49 về “CLB thể thao chuyên nghiệp” cân nhắc việc nêu rõ quyền lợi đối với đối tượng này, như :

“Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp là thành viên của liên đoàn thể thao quốc gia và phải tuân thủ quy định của Liên đoàn thể thao quốc tế mà Liên đoàn thể thao quốc gia của Việt Nam là thành viên.

“2. Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu hàng hóa, miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.

Điều 51 cũng quy định rõ hơn xung quanh việc thành lập, đăng ký, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể... đối với CLB thể thao chuyên nghiệp.

 Một số vấn đề đáng chú ý khác

Thay đổi tên gọi cơ quan quản lý nhà nước về TDTT:

Thay thế cụm từ “Ủy ban Thể dục thể thao” (cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất về TDTT ở thời điểm Luật Thể dục, thể thao ra đời năm 2006) bằng cụm từ “Bộ VHTTDL”.

Thay thế cụm từ “Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban TDTT” bằng cụm từ “Bộ trưởng Bộ VHTTDL” trong suốt các nội dung liên quan.

Điều 65 về “Đất đai cho TDTT” bổ sung thêm quy định về đất cho TDTT trong các khu công nghiệp. Một điều đáng chú ý là khoản 5 của Điều này nêu rõ quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho TDTT: “5. Trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất dành cho công trình TDTT, cơ quan có thẩm quyền phải bố trí quỹ đất tương ứng để thay thế”.

Dự thảo còn bổ sung Điều 68.a bước đầu quy định những vấn đề căn bản nhất trong việc tổ chức “Đặt cược thể thao” tại VN và các nguyên tắc kinh doanh.

Theo dự kiến, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV diễn ra từ 21/5 - 14/6, sẽ xem xét, thông qua 7 dự án Luật, cho ý kiến 9 dự án Luật khác... 7 dự án luật sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 5 gồm:  Luật Tố cáo (sửa đổi); Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Luật Cạnh tranh (sửa đổi); Luật An ninh mạng; Luật Quốc phòng (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao; Luật Đo đạc và bản đồ; Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019.

(Hữu Bình)

Bình luận (0)
Gửi