rss
Thứ ba, 11/12/2018 | 08:35 GMT+7

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔN VOVINAM Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH

Cập nhật 19:16 ngày 26/09/2018
(Lý luận & Thực tiễn) - Nói đến võ thuật không thể không nói đến môn Võ Vovinam. Cùng với sự phát triển lớn mạnh và sức lan tỏa của Vovinam ngày càng mạnh mẽ đặc biệt là sức hút sự tập luyện của giới trẻ. Với sự phát triển mạnh mẽ đó, hiện nay Vovinam được coi là quốc võ của Việt Nam, đây cũng là cơ hội để Vovinam có thể tìm được nhiều nhân tài trẻ tuổi về nhiều nội dung khác nhau. Một trong những nhiệm vụ đặt ra là phát triển môn thể thao truyền thống này, nhằm đáp ứng nhu cầu đông đảo quần chúng nhân dân tham gia tập luyện tại Thành Phố Hà Tĩnh.

1. ĐẶT VN ĐỀ

Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ thể dục, thể thao đến năm 2020. Điểm mới trong nội dung của Nghị quyết là ưu tiên phát triển thể dục, thể thao quần chúng và bảo tồn các môn thể thao dân tộc: “Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, vận động và thu hút nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hình thức tổ chức tập luyện TDTT ở cơ sở.....”.

Cùng với sự phát triển đó, Võ dân tộc cũng là một trong các môn thể thao đang được xã hội hóa mạnh mẽ và ngày càng có vị trí cao trên đấu trường Quốc tế. Nói đến võ thuật không thể không nói đến Vovinam, sức lan tỏa ngày càng mạnh mẽ đặc biệt là sức hút sự tập luyện của giới trẻ. Hiện nay Vovinam còn được coi là quốc võ của Việt Nam, đây cũng là cơ hội để Vovinam có thể tìm được nhiều nhân tài trẻ tuổi về nhiều nội dung khác nhau.

Chính vì vậy sau khi đánh giá tổng kết Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII năm 2014. Đoàn VĐV Hà tĩnh tham gia các môn võ nói chung và môn Vovinam không đạt kết quả cao. Một trong những nhiệm vụ đặt ra là phải đánh giá một cách khách quan về sự phát triển của môn Võ Vovinam trong những năm qua, tìm ra nguyên nhân chưa thành công và giải đáp cho câu hỏi tại sao môn Võ Vovinam của Hà Tĩnh sa sút cả về phong trào và thành tích cao, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp hợp lý có tính khả thi giúp cấp uỷ Đảng, chính quyền và ngành TDTT Hà phát triển môn thể thao này, nhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia tập luyện. Từ các vấn đề tiếp cận trên tôi lựa chọn đề tài; Nghiên cứu các giải pháp phát triển môn vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh. Đồng thời tiến hành cụ thể hóa các giải pháp phát triển đã lựa chọn. Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau; Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm; Phương pháp quan sát; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp phân tích SWOT Phương pháp kiểm chứng giải pháp; Phương pháp toán học thống kê. Khách thể nghiên cứu của đề tài gồm các chuyên gia, cán bộ quản lý và học sinh trên địa bàn Thành phố. Chủ thể nghiên cứu là cácgiải pháp phát triển môn võ Vovianm trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nhằm đánh giá thực trạng phong trào tập luyện thể thao quần chúng và tập luyện môn Võ trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh, đề tài tiến hành đánh giá các chỉ số về số người thường xuyên TDTT và tập luyện môn Võ. Kết quả thu được như trình bày ở các mục dưới đây.

2.1. Kết quả khảo sát số người tập luyện thể thao thường xuyên và môn tại Thành phố Hà Tĩnh.

Khảo sát thực tế trong hai năm (2015, 2016) kết quả được thể hiện ở (bảng 1)

STT

Tên chỉ tiêu

ĐVT

Năm

2015

Năm

2016

1

Tổng số dân

Người

97.329

97.719

2

Số người tập luyện TDTT thường xuyên

%

27

30

3

Số gia đình thể thao

%

15

18

3

Số người thường xuyên tập luyện các môn .

Người

1.324

1465

4

Tỷ lệ người thường xuyên tập luyện các môn trên tổng số dân

%

1,36

1,49

5

Số người thường xuyên tập luyện môn Cầu lông

Người

8.760

9.859

6

Tỷ lệ người thường xuyên tập luyện môn Cầu lông trên tổng số dân

%

9,00

10,08

7

Số người thường xuyên tập luyện môn Bóng chuyền

Người

7.638

8.503

8

Tỷ lệ người thường xuyên tập luyện môn Bóng chuyền trên tổng số dân

%

7,84

8,70

9

Số người thường xuyên tập luyện môn Bóng đá trên tổng số dân

Người

10.538

10.803

10

Tỷ lệ người thường xuyên tập luyện môn Bóng đá trên tổng số dân

%

10,82

11,05

Bảng 1. Số người tập luyện thể thao thường xuyên và môn tại Thành phố Hà Tĩnh

Từ kết quả thu được ở bảng 1 cho thấy

Số người tham gia tập luyện môn Võ trên địa bàn Thành phố là rất ít, điều này chứng tỏ phong trào tập luyện môn Vovinam trên địa bàn Thành Phố Hà Tĩnh trong hai năm qua còn rất hạn chế.

2.2. Sự hiểu biết và nhu cầu, phong trào tập luyện và thi đấu môn Vovinam trong học sinh

Học sinh phổ thông là đối tượng chính của thể thao, do vậy việc điều tra, khảo sát đánh giá nhu cầu, mức độ ham thích và chưa ham thích các hoạt động thể thao nói chung và môn Vovinam nói riêng là rất cần thiết. Chính vì vậy, đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi đối với 750 học sinh hai cấp học (Trung học cơ sở và Trung học phổ thông) ở trên địa bàn Thành Phố Hà Tĩnh. Kết quả được thể hiện qua (bảng 2)

Bảng 2. Sự hiểu biết môn Vovinam của học sinh THCS và THPT.

TT

Hình thức hiểu biết

Trung học cơ sở

(n = 355)

Trung học

 phổ thông

(n=395 )

Số lượng

học sinh

Tỷ lệ

%

Số lượng học sinh

Tỷ lệ

%

1

Theo lời kể của người thân

45

12,67

52

13,16

2

Xem trực tiếp tại giải Vovinam

109

30,70

118

29,87

3

Xem qua truyền hình

140

39,43

155

39,24

4

Đọc sách báo, tạp chí

61

17,18

70

17,72

- Phân tích kết quả ở bảng 2 cho thấy: đa số học sinh THCS và học sinh THPT có sự hiểu biết về môn thể thao Vovinam, tuy nhiên thì tỷ lệ học sinh THCS vì ít tuổi hơn do vậy số lượng hiểu biết về môn thể thao này ít hơn số học sinh THPT.

Qua bảng 2 cho thấy: phần lớn các em học sinh cả ở 2 cấp học đều hiểu biết về môn Vovinam thông qua xem trực tiếp và các giải Vovinam được tổ chức trên truyền hình.

- Nhu cầu được xem thi đấu, biểu diễn và tập luyện môn Vovinam của học sinh ở Thành Phố Hà Tĩnh. Kết quả được thể hiện qua (bảng 3)

Bảng 3. Nhu cầu được xem thi đấu, biểu diễn và tập luyện môn Vovinam của

học sinh THCS - THPT ở Thành Phố Hà Tĩnh

TT

Mức độ

Nhu cầu xem thi đấu, biểu diễn Vovinam

Nhu cầu tập luyện, thi đấu

Vovinam

Trung học

cơ sở

(n = 355)

Trung học phổ thông

(n=395 )

Trung học

cơ sở

(n = 355)

Trung học

phổ thông

(n=395 )

SL/HS

 

Tỷ lệ

%

SL/HS

Tỷ lệ %

SL/HS

Tỷ lệ %

SL/HS

Tỷ lệ

%

1

Rất thích

199

56,05

165

41,77

195

54,92

101

25,56

2

Chưa thích

120

33,80

45

11,39

45

12,67

117

29,62

3

Không thích

36

10,14

185

46,83

115

32,39

177

44,81

Kết quả ở bảng 3 cho thấy: Đa số học sinh THCS có nhu cầu rất thích được xem thi đấu, biểu diễn môn Vovinam (chiểm tỷ lệ 56.05%). Đối với học sinh THPT có nhu cầu rất thích được xem thi đấu, biểu diễn môn Vovinam với (chiểm tỷ lệ 41,77%).

- Nhu cầu tập luyện môn võ Vovinam của học sinh cho thấy: Học sinh THCS rất thích tập luyện và thi đấu môn Vovinam (chiếm tỷ lệ 54,92%). Đối với học sinh THPT rất thích tập luyện và thi đấu môn Vovinam (chiếm tỷ lệ 25,56%), điều này chứng tỏ học sinh THPT chưa ham thích tập luyện môn Vovinam.

- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ ham thích tập luyện và thi đấu môn Vovinam của học sinh THCS và THPT. Kết quả được thể hiện qua (bảng 4, 5) 

Bảng 4. Nguyên nhân để học sinh THCS và THPT ham thích tập luyện

tham gia thi đấu môn Vovinam

 

TT

Nội dung nguyên nhân

THCS

(n = 355)

THPT

 (n=395 )

Số lượt

ý kiến

Tỷ lệ %

Số lượt

ý kiến

Tỷ lệ %

1

Để nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí, bản lĩnh

295

83.09

242

61,26

2

Để phát triển môn thể thao Vovinam

307

86,47

257

65,06

3

Để tham gia giải  cấp tỉnh, Quốc Gia

153

43,09

90

22,78

4

Vì truyền thống gia đình

115

32,39

64

16,20

5

Vì có nhiều bạn tham gia và thi đấu được khen thưởng

225

63,38

214

54,17

6

Vì nhà trường tổ chức hướng dẫn tập luyện

214

60,28

219

55,44

7

Vì địa phương có câu lạc bộ Vovinam

292

82,25

234

79,24

8

Vì có lớp năng khiếu của tỉnh, đặt tại địa phương

169

47,60

107

27,08

Bảng 5. Nguyên nhân học sinh THCS và THPT không ham thích

tập luyện và tham gia thi đấu môn Vovinam

 

TT

Nội dung nguyên nhân

THCS

(n = 355)

THPT

(n=395 )

Số lượt

ý kiến

Tỷ lệ %

Số lượt

ý kiến

Tỷ lệ %

1

Chưa hiểu biết, không biết luật, không biết tác dụng khi tập luyện

195

54,92

216

54,68

2

Không có địa điểm tập luyện

218

61,40

248

62,78

3

Không có nhà và trang thiết bị tập luyện

86

24,22

82

20,75

4

Không có người hướng dẫn

312

87,88

289

73,16

5

Nhà trường và địa phương không tổ chức hướng dẫn tập luyện

194

54,64

226

57,21

6

Các bạn cùng trang lứa không tham gia tập luyện và ít người tập

70

19,71

85

21,51

7

Không có năng khiếu

135

38,02

205

51,89

8

Không có thời gian rảnh rỗi

126

35,49

95

24,05

9

Không có tiền đóng học phí, lệ phí

79

22,25

74

18,73

10

Mệt mỏi và dễ sảy ra tai nạn

42

11,83

82

20,75

11

Không phải là môn thể thao hiện đại

69

19,43

85

21,51

12

Nhà trường và địa phương không tổ chức hướng dẫn tập luyện

99

27,88

64

16,20

13

Không có người hướng dẫn tập luyện.

88

24,78

70

17,72

14

Không có nhà, cơ sở vật chất phục vụ tập luyện.

48

16,33

52

13,16

            Qua phân tích kết quả ở bảng 4, 5 cho thấy: nguyên nhân để học sinh THCS và THPT ham thích tập luyện môn Vovinam là vì: để nâng cao sức khoẻ; phát triển môn thể thao Vovinam; có nhiều bạn cùng trang lứa tập luyện, tham gia thi đấu được khen; vì nhà trường tổ chức, hướng dẫn tập luyện và vì địa phương có câu lạc bộ Vovinam.

            Nguyên nhân dẫn đến học sinh THCS chưa ham thích tập luyện và thi đấu môn Vovinam là vì: chưa hiểu biết; không có địa điểm tập luyện; không có người hướng dẫn và nhà trường không tổ chức hướng dẫn tập luyện, tuy nhiên số lượng học sinh chưa biết dẫn tới không ham thích tập luyện và thi đấu Vovinam còn cao, không có năng khiếu về môn này. Tuy nhiên còn một số nguyên nhân mang tính khách quan cũng có ảnh hưởng nhưng không cao, một số nguyên nhân mang tính chủ quan cũng có ảnh hưởng nhưng ở mức thấp.

2.3. Lựa chọn những giải pháp phát triển môn võ Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh

Trên cơ sở kết quả phân tích SWOT cho thấy những điểm mạnh, điểm yếu, những thách thức và cơ hội của sự phát triển phong trào môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh, cùng với việc tuân thủ các nguyên tắc lựa chọn giải pháp, đề tài xác định được 8 giải pháp cơ bản nhằm phát triển môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh, bao gồm: 1) Tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của môn Vovinam; 2) Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phát triển môn Vovinam; 3) Phát triển môn Vovinam phù hợp với văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương; 4) Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất phục vụ môn Vovinam; 5) Tạo nguồn cán bộ HLV, HDV phát triển môn Vovinam; 6) Phát triển hệ thống thi đấu môn Vovinam; 7) Liên kết hệ thống thi đấu giải mở rộng môn Vovinam; 8) Phát triển môn Vovinam theo hướng xã hội hóa.

Tiếp theo, để đảm bảo tính khoa học cho việc lựa chọn giải pháp, đề tài tiến hành phỏng vấn chuyên gia nhằm trưng cầu ý kiến lựa chọn giải pháp phát triển phong trào môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh. Số lượng chuyên gia được lựa chọn gồm 50 người, đây là các cán bộ quản lý, chuyên gia, huấn luyện viên. Số phiếu phát ra là 50, số phiếu thu về là 41 chiếm tỷ lệ 82%.

Các giải pháp trong mỗi phiếu hỏi được đánh giá theo quy ước: 5 điểm - Rất quan trọng; 3 điểm - Quan Trọng; 1 điểm - Không quan trọng.

Sau khi phân tích và xử lý các thông tin thu được từ các chuyên gia, các giải pháp được sắp xếp theo mức độ quan trọng từ cao xuống thấp (dựa vào giá trị trung bình mỗi giải pháp).

Kết quả được trình bày tại bảng 6.

Bảng 6. Kết quả phỏng vấn các giải pháp phát triển môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh (n = 41)

(Tổng số điểm tối đa = 205)

TT

Các giải pháp

Rất

quan trọng

Quan

 trọng

Không

quan trọng

Tổng điểm

Điểm trung bình

 

n

Điểm

n

Điểm

n

Điểm

1

Tạo tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của môn Vovinam

39

195

2

6

-

-

201

4.90

2

Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phát triển môn Vovinam

36

180

5

15

-

-

195

4.75

3

Phát triển môn Vovinam phù hợp với văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương

35

175

6

18

-

-

193

4.70

4

Phát triển môn Vovinam theo hướng xã hội hóa

34

170

6

18

1

1

189

4.60

5

Tạo nguồn cán bộ HLV, HDV môn Vovinma

32

160

9

27

-

-

187

4.56

6

Phát triển hệ thống thi đấu môn Vovinam

30

150

10

30

1

1

181

4.41

7

Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất phục vụ môn Vovinam

25

125

14

42

2

2

169

4.12

8

Liên kết hệ thống thi đấu giải mở rộng môn Vovinam

15

75

21

63

5

5

143

3.48

            Kết quả ở bảng 6 cho thấy, cả 8 giải pháp phát triển môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh đều được các chuyên gia đánh giá ở mức độ quan trọng, với giá trị trung bình đạt từ 3,48 điểm đến 4,90 điểm. Trong đó giải pháp được đánh giá cao nhất là Tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của môn Vovinam và 1 giải pháp được đánh giá thấp nhất là Liên kết hệ thống thi đấu giải mở rộng môn Vovinam.

            Như vậy, cả 08 giải pháp này bước đầu đã có những cơ sở khoa học cần thiết để phát triển phong trào môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh.

2.4. Kết quả kiểm chứng hiệu quả một số giải pháp phát triển môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh

Để phát triển phong trào môn Vovinam trong quần chúng nhân dân phụ thuộc vào rất nhiều giải pháp khác nhau, nhưng trong phạm vi đề tài này, chỉ đề cập đến một số giải pháp cơ bản chủ yếu. Tuy nhiên trong khuôn khổ thời gian thực hiện, đề tài chỉ kiểm chứng 7/8 giải pháp, đó là: Tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của môn Vovinam; Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phát triển môn Vovinam; Phát triển môn Vovinam phù hợp với văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương;  Phát triển môn Vovinam theo hướng xã hội hóa; Tạo nguồn cán bộ HLV, HDV phát triển môn Vovinam; Phát triển hệ thống thi đấu môn Vovinam; Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất phục vụ môn Vovinam.

Trong điều kiện cho phép tổ chức kiểm chứng các giải pháp lựa chọn trên phạm vi địa bàn là 02 Phường và 02 Xã tại Thành Phố Hà Tĩnh để triển khai một số giải pháp và phát triển môn Vovinam đã lựa chọn, gồm:

+ Phường Trần Phú và Phường Hà Huy Tập Thành Phố Hà Tĩnh đại diện khu vực thành thị.

+Xã Thạch Trung và Xã Thạnh Hà Thành Phố Hà Tĩnh đại diện cho khu vực nông thôn.

Các chỉ tiêu thống kê sự tác động của các giải pháp là những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển phong trào môn Vovinam bao gồm: Số người tập TDTT thường xuyên; Số gia đình tập luyện thể thao; Số câu lạc bộ TDTT; Số môn tập luyện TDTT; Số lượng người tập luyện môn Vovinam; Số HLV, HDV môn Vovinam.

Nhìn chung, những điều kiện tự nhiên và xã hội và hoạt động TDTT ở địa phương là thuận lợi để áp dụng các giải pháp phát triển phong trào môn Vovinam mà đề tài đã xác định.

Bảng 7. Thực trạng hoạt động TDTT và môn Vovinam ở các địa bàn

trước khi áp dụng các giải pháp

TT

 

Các chỉ số

Địa phương

Phường Trần Phú

Phường Hà Huy Tập

Thạch Trung

Thạnh Hà

1

Dân số

Tổng dân số (Người)

6572

4913

 

6574

2

Số hộ gia đình

1761

1518

2211

1572

1

Hoạt động TDTT

Số người tập TDTT thường xuyên (%)

23.25

21.62

19.17

19.01

2

Số gia đình tập luyện TDTT (%)

15

15.3

11.45

10.89

3

Số câu lạc bộ TDTT

6

5

3

2

4

Số môn tập luyện TDTT

6

7

5

4

5

Số lượng người tập luyện môn Vovinam

29

31

19

21

6

Số HLV, HDV môn Vovinam

2

1

1

2

  Sau thời gian 1 năm tổ chức kiểm chứng một số giải pháp đã được lựa chọn trên địa bàn 02 phường của Thành Phố Hà Tĩnh và 02 Xã ở Thành Phố Hà Tĩnh kết quả được trình bày ở bảng 8.

Bảng 8. Các đối tượng trên địa bàn (02 Phường và 02 Xã) tập luyện

môn Vovinam sau kiểm chứng các giải pháp

TT

Đối tượng

Địa phương

Phường Trần Phú

Phường Hà Huy Tập

Xã Thạch Trung

Thạnh Hà

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Học sinh THCS

27

41.53

23

33.33

11

39.28

15

45.45

2

Học sinh THPT

18

27.69

17

24.63

6

21.42

7

21.21

3

Thanh niên

13

20

19

27.53

5

17.85

6

18.18

4

Trung niên

05

7.69

7

10.14

4

14.28

3

9.09

5

Người cao tuổi

02

3.07

3

4.34

2

7.14

3

9.09

Tổng

65

100

69

100

28

100

34

100

Qua kết ở quả bảng 8 cho thấy:

Số người thường xuyên tập luyện môn Vovinam, tập trung chủ yếu là học sinh THCS và THPT. Số Thanh niên thành thị tham gia tập luyện môn Vovinam nhiều hơn không đáng kể Thanh niên nông thôn. Số người Trung niên và Người cao tuổi ở nông thôn tham gia tập luyện nhiều hơn ở Thành Thị.

Như vậy, chứng tỏ các giải pháp phát triển phong trào môn Vovinam đã có tác động tích cực đến tầng lớp Thanh thiếu niên, Trung niên và Người cao tuổi ở các địa phương được lựa chọn kiểm chứng giải pháp.

Kết quả ở bảng 9 cũng cho thấy, tổng hợp kết quả hoạt động TDTT các địa phương sau thực nghiệm thông qua các chỉ số phát triển của phong trào đều có sự tăng trưởng rõ rệt trước và sau kiểm chứng giải pháp, cụ thể là:

Bảng 9. Tổng hợp kết quả hoạt động TDTT quần chúng và phát triển môn Vovinam ở các xã, phường

trước và sau kiểm chứng các giải pháp

TT

Các chỉ số phát triển phong trào TDTT và môn Vovinam

Địa phương

Phường

Trần Phú

Phường

Hà Huy tập

Thạnh Trung

Thạnh Hà

Trước kiểm chứng

Sau kiểm chứng

W

(%)

Trước kiểm chứng

Sau kiểm chứng

W

(%)

Trước kiểm chứng

Sau kiểm chứng

W

(%)

Trước kiểm chứng

Sau kiểm chứng

W

(%)

1

Số người tập TDTT thường xuyên (%)

23.25

29.71

6.46

21.62

27.98

6.36

19.17

23.57

4.4

19.01

22.79

3.78

2

Số gia đình tập luyện TDTT (%)

15.00

17.98

2.98

14.3

16.90

2.6

11.45

13.78

2.33

10.89

13.59

2.7

3

Số câu lạc bộ TDTT

6

11

58.82

5

9

57.14

3

7

80.00

2

5

85.71

4

Số môn tập luyện TDTT

6

8

28.57

7

8

13.33

5

6

18.18

4

5

22.22

5

Số lượng người tập luyện môn Vovinam

29

65

76.59

31

69

76.00

19

28

38.30

21

34

47.27

6

Số HLV, HDV môn Vovinam

2

4

66.67

1

3

100

1

2

66.67

2

3

40.00

Như vậy, các chỉ tiêu cơ bản đánh giá sự phát triển phong trào TDTT và môn Vovinam sau 1 năm thực nghiệm cho thấy, các chỉ tiêu này đối với TDTT quần chúng và Vovinam ở các địa bàn kiểm chứng đều tăng cao hơn so với trước kiểm chứng. Điều này chứng minh rằng, các giải pháp mà đề tài đã lựa chọn bước đầu đã khẳng định được hiệu quả trong việc phát triển phong trào tập TDTT và tập luyện môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh.

3. KẾT LUẬN

Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài rút ra một số kết luận sau:

- Thực trạng phong trào tập luyện và phát triển môn Vovianam trên địa bàn Thành Phố Hà Tĩnh trong những năm qua tuy có sự quan tâm của các cấp nhưng còn tồn tại nhiều yếu kém như: nhận thức của một bộ phận nhân dân về môn Vovinam còn hạn chế, số người tham gia tập luyện ở các địa phương còn ít; công tác xã hội hoá chưa được quan tâm của các cấp và toàn xã hội; cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển phong trào môn võ Vovinam.

- Qua nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn đươc 08 giải pháp phát triển phong trào môn Vovinam ở Thành Phố Hà Tĩnh, bao gồm: Tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của môn Vovinam; Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để phát triển môn Vovinam; Phát triển môn Vovinam phù hợp với văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương; Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất phục vụ môn Vovinam; Tạo nguồn cán bộ HLV, HDV phát triển môn Vovinam; Phát triển hệ thống thi đấu môn Vovinam; Liên kết hệ thống thi đấu giải mở rộng môn Vovinam; Phát triển môn Vovinam theo hướng xã hội hóa.

- Trên cơ sở kiểm chứng khoa học, 08 giải pháp mà đề tài đã lựa chọn bước đầu đã thể hiện tính hiệu quả sau 1 năm áp dụng thông qua chỉ số phát triển phong trào tập luyện TDTT và môn Vovinam như: Số người tập luyện thường xuyên; Số gia đình tập luyện thể thao; Số câu lạc bộ thể thao; Số môn thể thao tập luyện; Số lượng người tham gia tập luyện môn Vovinam; Số huấn luyện viên, hướng dẫn viên môn Vovinam.

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Thể dục, Thể thao (2006), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.

2. Phạm Đình Bẩm (2003), Quản lý chuyên ngành TDTT (tài liệu chuyên khảo dành cho hệ cao học và đại học TDTT) – NXB TDTT.

3. Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (chủ biên -2000), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT Hà Nội.

4.  Dương Nghiệp Chí (1991), Đo lường TDTT, NXB TDTT Hà Nội, tr8.

5. Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Quyết định số 89/2007/QĐ-UB ngày 18.12.2007, về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển sự nghiệp TDTT tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006 – 2015 và định hướng đến năm 2020”.

6. Cục Thống kê Hà Tĩnh, Niêm giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2015, NXB Thống kê Hà Nội 2016.

7. Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Tĩnh (2006), Đề án Quy hoạch phát triển sự nghiệp TDTT giai đoạn 1996 – 2015 và định hướng đến năm 2020.

TS. Trần Mạnh Hưng - Ths. Võ Mạnh Chiến

Bình luận (0)
Gửi