rss
Thứ năm, 01/10/2020 | 21:08 GMT+7

Nhận thức về phát triển kinh tế thể thao

Cập nhật 04:13 ngày 15/09/2020
(Kinh tế Thể thao) - Kinh tế học TDTT là một ngành khoa học, xem xét những biểu hiện cụ thể trong các mối quan hệ kinh tế - xã hội với các vấn đề thực tế của ngành công nghiệp thể thao. Mục đích quan trọng nhất của ngành khoa học này là phát triển các khuyến nghị dựa trên bằng chứng nhằm tăng cường sản xuất và dịch vụ.

Sản phẩm cơ bản của ngành TDTT

Văn hóa và thể thao là các ngành không sản xuất, mà kết quả lao động lại là các dịch vụ. Cùng với điều này, trong lĩnh vực TDTT còn có những cơ sở sản xuất ra các thiết bị thể thao, dụng cụ thể thao, quần áo, giày, găng…

TDTT là loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu tinh thần và duy trì hoạt động sống hàng ngày của người sử dụng. Dịch vụ TDTT đáp ứng việc duy trì và phục hồi sức khỏe, phát triển thể chất và tinh thần cho mỗi cá nhân, nâng cao trình độ nghề nghiệp... Phần lớn các loại hình dịch vụ của ngành TDTT đều thuộc dịch vụ văn hóa - xã hội.

Nguồn nhân lực trong ngành TDTT

Lực lượng lao động trong các lĩnh vực phi sản xuất, đặc biệt là sản xuất các dịch vụ TDTT ít tuân theo cơ giới hóa, tự động hóa mà đòi hỏi sự tương tác cá nhân và hướng vào yếu tố con người. Do vậy, lực lượng lao động cần phải có sự sáng tạo và các kỹ năng tương đối cao.

Trong mối quan hệ giữa kinh tế và thể thao, cần thiết phải có sự thay đổi các yêu cầu về đào tạo chuyên nghiệp không chỉ trong thực tiễn mà cả trong quá trình giảng dạy. Người tham gia hoạt động kinh tế thể thao không những phải nắm vững các nguyên tắc cơ bản của một nền kinh tế thị trường mà còn phải có khả năng tư duy kinh tế, nắm vững các yếu tố của kinh tế và văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh thể thao.

Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, dịch vụ chiếm khoảng 60% và hàng hóa là 40%, trong đó dịch vụ luôn có xu hướng gia tăng.

Việc làm trong ngành công nghiệp TDTT có mức độ khác nhau, bao gồm tất cả các hình thức, các lớp học bắt buộc trong các cơ sở giáo dục, tổ chức việc làm tự nguyện, thể thao nghiệp dư và chuyên nghiệp...

Có thể chia nguồn nhân lực trong hoạt động GDTC và huấn luyện thể thao thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Trực tiếp tham gia vào việc đào tạo và huấn luyện. Nhóm này bao gồm các giáo viên GDTC của các cơ sở giáo dục, HLV, giảng viên, hướng dẫn viên...

Nhóm 2: Liên quan đến việc chuẩn bị các điều kiện cho VĐV và môn thể thao. Nhóm này bao gồm các kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia, công nhân, viên chức và người tham gia CLB cơ sở, các trường học thể thao, cơ sở thể thao, cơ sở đào tạo...

Nhóm 3: Thể thao chuyên nghiệp. Nhóm này có mặt ở hầu hết các phần trong ngành công nghiệp - giải trí - dịch vụ tự do của người dân.

Thị trường TDTT

Dưới quan điểm kinh tế, TDTT là lĩnh vực phi sản xuất, không trực tiếp tham gia vào việc tạo ra một sản phẩm hữu hình. TDTT sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, bao gồm việc đảm bảo rằng một loạt các hoạt động về hậu cần, tổ chức và nhân sự phát triển của một mạng lưới các phòng tập TDTT, phí xây dựng và tổ chức phục vụ khách hàng của họ trong quá trình nghiên cứu bài tập, đào tạo, biểu diễn thể thao và xem các cuộc thi đấu; đào tạo chuyên nghiệp, tiến hành nghiên cứu, sản xuất, lưu trữ và bán hàng cho các mục đích thể thao, sửa chữa và cho thuê thiết bị và dụng cụ thể thao...

Các hoạt động cung ứng của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau cung cấp các sản phẩm cho mỗi sự kiện theo hướng kinh doanh cốt lõi của nó đã tạo nên sự tích hợp, phụ thuộc lẫn nhau nhằm đáp ứng cùng một nhu cầu của người dân tham gia.

Trạng thái cân bằng của ngành dịch vụ trong thị trường TDTT được thiết lập khi các nhà sản xuất hài lòng với công việc của họ và người tiêu dùng - phạm vi và chất lượng dịch vụ cung cấp.

Lĩnh vực thương mại dịch vụ ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh, chủ yếu thuộc về các ngành bán buôn bán lẻ hàng hóa, bình quân giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP ngành dịch vụ trung bình năm là 6,5% trong đó ngành bán buôn bán lẻ đạt 9,01%. Đóng góp cụ thể của dịch vụ TDTT là nhỏ và chưa cụ thể.

Thị trường thể thao có thể đo được bằng nhiều cách, như lượng tiêu thụ các sản phẩm thể thao, chi phí xây dựng địa điểm thi đấu hay chi phí hoạt động của các bộ phận. Ngoài ra, có thể xác định độ lớn của thị trường thông qua ngân sách đầu tư cho thể thao của nhà nước và doanh nghiệp; cũng có thể là chi phí trung bình 1 người trả cho thể thao hàng năm, hay số lượng người tham gia và người làm việc trong ngành TDTT. Tuy nhiên, sẽ là rất khó để đưa ra con số chính xác cho thị trường này vì nó quá lớn và có nhiều đối tượng liên quan.

Sự can thiệp của Chính phủ vào TDTT nhìn từ góc độ kinh tế

Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều can thiệp đáng kể vào lĩnh vực TDTT thông qua nhiều cách khác nhau. Có thể thấy rằng, người tiêu dùng chi tiêu cho thể thao chiếm một phần tương đối nhỏ trong tổng chi tiêu cho giải trí, còn Chính phủ đầu tư vào TDTT lại là một khoản khá lớn trong tổng chi tiêu công 20 năm qua. Dưới góc độ tiếp cận, Luật Thể dục, thể thao ở một số nước châu Âu thường phân thành 2 mô hình: “Can thiệp” là một mô hình có quy định pháp luật cụ thể về cơ cấu và nhiệm vụ của phong trào thể thao quốc gia. Tất cả các mô hình luật thể thao khác đều được coi là mô hình “không can thiệp”. Ngoài phương thức kiểm soát thông qua pháp luật, Chính phủ các quốc gia còn kiểm soát phong trào TDTT thông qua các quỹ dành cho TDTT.

Do kinh tế TDTT là ngành khá đặc thù nên mức độ và hình thức can thiệp của Chính phủ cũng có nhiều khác biệt so với các ngành kinh tế khác. Xét trên giác độ kinh tế học, sự can thiệp của Chính phủ cũng được giải thích bởi các yếu tố khác biệt về hướng sản phẩm, cung cầu thị trường. Sự phát triển của TDTT chịu ảnh hưởng của thị trường thể thao và của Chính phủ. Tác động của 2 yếu tố này khác nhau về động lực, phương tiện, mức độ và thời gian để tạo nên 2 cơ chế hoạt động đó là: Định hướng thị trường và định hướng Chính phủ.

Căn cứ vào chuỗi giá trị thị trường thể thao có thể chia thị trường làm 3 nhóm dựa trên các mục đích hoạt động khác nhau, đó là:

Nhóm 1: Các đối tượng được thành lập bởi nhà nước. Nhóm này bao gồm các cơ quan/tổ chức nhà nước ở cấp quốc gia, địa phương hay khu vực cũng như các tổ chức thuộc quyền quản lý nhà nước được thành lập với mục đích phát triển thể thao, quản lý các vấn đề luật pháp liên quan đến thể thao, nâng tầm sức khỏe cộng đồng...

Nhóm 2: Các tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức hoạt động tình nguyện. Nhóm này bao gồm các CLB cấp khu vực, các tổ chức cộng đồng hay các tổ chức thể thao quốc tế như FIFA. Các hoạt động của nhóm này tập trung chủ yếu vào phát triển thể thao, tăng lượng người tham gia rèn luyện thể thao, tổ chức thi đấu.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp/tổ chức làm thể thao. Nhóm này được thành lập vì nhu cầu/mục đích kinh tế, bao gồm các đối tượng như CLB, giải thi đấu, các sự kiện thể thao được xây dựng với mục đích tạo lợi nhuận. Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm liên quan đến thể thao như các công ty sản xuất hàng may mặc, dụng cụ, giày dép... hay các nhà bán buôn, bán lẻ, các công ty truyền thông.

Hoạt động của 3 nhóm này không tách rời nhau và tạo thành một chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, một phần các tổ chức phi lợi nhuận nhưng không trực thuộc quyền quản lý của nhà nước (như Ủy ban Olympic quốc tế).

Nhận thức về kinh tế TDTT và sự tham gia của nhà nước

Phân tích các mối quan hệ giữa nền kinh tế và sự phát triển của TDTT dựa trên 3 vấn đề chính: tài trợ cho thể thao; thể thao và quản lý kinh tế để tạo ra các thủ tục hợp tác kinh tế trong thị trường duy nhất của ngành công nghiệp thể thao; tương tác giữa thị trường và ngành công nghiệp thể thao.

Các vấn đề tài chính cần thiết để phân tích gồm: ngân sách nhà nước và địa phương, xổ số thể thao, nguồn vốn quốc gia khác, các nhà tài trợ, doanh thu từ các sự kiện thể thao... cho sự phát triển của TDTT.

Hoạt động quản lý kinh tế kết hợp với việc sử dụng hiệu quả nhất nhằm tăng thu nhập, hạch toán, phát triển các yêu cầu đối với hệ thống thuế, các quy tắc chi phí tối ưu cho sự kiện thể thao, cách để tăng sự đóng góp của tình nguyện viên, phân tích tiền công cho VĐV chuyên nghiệp và điều kiện làm việc của họ.

Các môn thể thao, dịch vụ thể thao đại diện cho các hoạt động kinh tế liên quan đến tiêu thụ sản phẩm TDTT, tạo ra nhu cầu của thị trường đối với hàng hóa và dịch vụ thể thao, phục vụ như là một chuyên ngành và không chuyên sản xuất. TDTT đòi hỏi tạo ra một mạng lưới các phòng tập, cơ sở thể thao và do đó cần có thị trường xây dựng công trình thể thao. Duy trì tập thể dục, hồi phục, điều trị trong trường hợp chấn thương... đòi hỏi sự tham gia của thị trường thực phẩm, dược phẩm. Sự cạnh tranh giữa các môn thể thao trên thị trường tạo phạm vi hoạt động cho các phương tiện truyền thông, từ đó tạo điều kiện cho hoạt động của các nhà tài trợ.

Nhà nước cần thiết phải tham gia thị trường thể thao vì mục đích cộng đồng, kinh tế và chính trị. Do vậy, nhà nước tác động lên hoạt động TDTT thông qua 4 hướng sau:

Thứ nhất, nhà nước xây dựng/bảo trì các công trình thể thao, tìm kiếm, huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, cổ vũ, thúc đẩy phát triển phong trào rèn luyện TDTT cũng như cung cấp tài chính cho các tổ chức, các giải thi đấu hay những đợt vận động đăng cai tổ chức các giải thể thao lớn.

Thứ hai, nhà nước chịu trách nhiệm phát triển thể thao thông qua việc đào tạo chính quy tại trường học hoặc các trung tâm đào tạo thể thao.

Thứ ba, nhà nước là tổ chức có tiếng nói sâu rộng nhất trong vấn đề truyền bá thông tin lợi ích thể thao, các vấn đề liên quan đến sức khỏe, các chương trình thể thao vì cộng đồng hay các chương trình nâng tầm hiểu biết cho cộng đồng về lối sống lành mạnh.

Thứ tư, nhà nước đưa ra các điều lệ tổ chức, ngăn chặn các hành vi xấu như doping, bán độ...

Tuy nhiên, không giống các thị trường tiêu dùng thuần túy, ở thị trường TDTT, nhà nước thường can thiệp để giảm tính cạnh tranh tuyệt đối. Nhà nước không tham gia trực tiếp vào các hoạt động marketing mà thúc đẩy thể thao phát triển bằng cách đầu tư cho hoạt động truyền bá lợi ích sức khỏe do thể thao mang lại.

PGS. TS Nguyễn Danh Hoàng Việt - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TDTT
Bình luận (0)
Gửi