rss
Thứ tư, 20/09/2017 | 10:41 GMT+7

Nhìn lại 10 năm thực hiện Luật Thể dục, thể thao

Cập nhật 09:35 ngày 24/08/2017
(Pháp luật TDTT) - Luật Thể dục, Thể thao được Quốc hội thông qua năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007. Sau 10 năm đi vào cuộc sống, Luật TDTT cùng hệ thống văn bản dưới luật đã tạo hành lang pháp lý giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở để xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, cơ bản đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân; được các đơn vị, tổ chức, cá nhân kinh doanh, dịch vụ thể thao đồng tình, tích cực hưởng ứng và tuân thủ.

Về thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển TDTT

Sau 10 năm thực hiện Luật TDTT, nhìn chung các chính sách về phát triển TDTT đã được triển khai và có hiệu quả bước đầu. Ngân sách nhà nước cho hoạt động TDTT tiếp tục được gia tăng hàng năm, cơ sở vật chất, sân bãi tiếp tục được đầu tư, nâng cấp. Hiện cả nước có 572 công trình đủ tiêu chuẩn thi đấu cấp quốc gia; khoảng 271.410 công trình thể thao công cộng phục vụ nhu cầu tập luyện TDTT của nhân dân; khoảng 60 đến 70% xã, phường, thị trấn đã dành đất cho TDTT, trong đó 30% xã, phường có sân tập, nhà tập. Thể dục thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã có bước phát triển. Thể thao dân tộc được quan tâm giữ gìn, bảo tồn. Một số môn thể thao dân tộc như Vovinam, đá cầu, võ cổ truyền... từng bước đã được phổ biến ra quốc tế.

Ngân sách nhà nước đầu tư cho TDTT tuy có tăng song tỷ trọng còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển TDTT hiện nay. Việc lập quy hoạch đất cho TDTT đã và đang được thực hiện ở các cấp, các ngành nhưng còn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, đầu tư cơ sở hạ tầng; cá biệt một số trường hợp bị thay đổi quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng. Chính sách khuyến khích xã hội hoá TDTT còn chưa sát với thực tiễn nên chưa thu hút được các nguồn lực trong xã hội để phát triển TDTT. Hiện nay, khoản kinh phí tài trợ cho hoạt động TDTT không được đưa vào hạch toán trong chi phí của doanh nghiệp và phải chi từ quỹ phúc lợi hoặc chi theo hợp đồng quảng cáo, trong khi tỷ lệ chi quảng cáo của doanh nghiệp bị khống chế và đơn vị tổ chức sự kiện thể thao phải chịu khoản thuế trên số tiền tiếp nhận nên rất khó cho doanh nghiệp và đơn vị tiếp nhận tài trợ. 

 Việc thực hiện các quy định về thể thao cho mọi người

Các hoạt động TDTT quần chúng đã được triển khai hướng về cơ sở, ưu tiên đối tượng và địa bàn trọng điểm; tăng cường bồi dưỡng hướng dẫn viên, cộng tác viên thể thao ở cơ sở làm lực lượng nòng cốt để vận động và hướng dẫn nhân dân thường xuyên tập luyện, nâng cao sức khỏe. Nhờ vậy, việc luyện tập TDTT đã chuyển dần từ tự phát sang tự giác và có tổ chức. Số người tham gia ủng hộ, giúp đỡ, đóng góp cho hoạt động TDTT quần chúng theo chủ trương xã hội hóa ngày càng nhiều (đến năm 2014 đã có 48.000 Câu lạc bộ TDTT; hàng năm tổ chức trên 39.500 giải thể thao quần chúng). Các chỉ tiêu đánh giá phong trào TDTT quần chúng tăng đều hàng năm. Đến nay, cả nước có gần 29,53% dân số thường xuyên tập luyện TDTT; 21,2% tổng số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao; có khoảng 40.000 câu lạc bộ TDTT quần chúng hoạt động thường xuyên; hầu hết các xã, phường, thị trấn có hội đồng TDTT, câu lạc bộ TDTT hoặc nhà văn hoá thể thao, khoảng 30% xã, phường, thị trấn có sân chơi, bãi tập. Nhiều hoạt động TDTT quần chúng có quy mô toàn quốc đã được tổ chức như: Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể thao gương Bác Hồ vĩ đại”, Đại hội TDTT các cấp và Đại hội TDTT toàn quốc, Giải thể thao người khuyết tật toàn quốc…thu hút đông đảo người dân tham gia. Hoạt động TDTT của người cao tuổi, được phát triển rộng khắp đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, góp phần nâng cao sức khỏe, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Phong trào rèn luyện TDTT đã thu hút từ 15-20% người cao tuổi ở nông thôn và trên 60% người cao tuổi ở các thành phố, thị xã tham gia luyện tập TDTT thường xuyên.

Hoạt động thể thao cho người khuyết tật được quan tâm, góp phần động viên, cổ vũ, tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia tập luyện TDTT, hoà nhập với cộng đồng. Hiện có 45/63 tỉnh/thành phố duy trì thường xuyên hoạt động thể dục, thể thao cho người khuyết tật.

 Tồn tại, hạn chế

TDTT quần chúng: phát triển chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở các khu đô thị và còn mang tính tự phát; tỷ lệ người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nông thôn, chưa làm tiền đề cho việc tuyển chọn VĐV thành tích cao. Việc quản lý hoạt động thi đấu thể thao quần chúng có yếu tố nước ngoài chưa được Luật TDTT quy định. Việc xử lý vi phạm hành vi bị cấm, bạo lực trong các giải thể thao phong trào ở địa phương gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong xử lý các trường hợp không thể xử phạt hành chính, phạt tiền thì không có hình thức xử lý nào khác do chưa có văn bản hướng dẫn. Khoản 4, Điều 13 Luật TDTT quy định “Cơ quan, tổ chức quyết định tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng phải tuân theo quy định của Luật này và có trách nhiệm quy định nội dung, hình thức, chế độ bồi dưỡng, giải thưởng và bảo đảm kinh phí cho việc tổ chức giải thi đấu” nhưng trên thực tế, các giải thi đấu thể thao quần chúng cấp quốc gia không trao thưởng cho các VĐV mà do các địa phương thực hiện khen thưởng, dẫn đến quyền lợi của các VĐV đạt thành tích ở cùng một giải đấu không được đảm bảo hài hòa do mỗi địa phương quy định mức chi khen thưởng khác nhau.

Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đã có những chuyển biến. Đội ngũ giáo viên, giảng viên TDTT ở các trường học đã từng bước đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ. Cả nước có trên 21.000 giảng viên, giáo viên TDTT, trong đó có 628 giáo viên có trình độ thạc sỹ, trên 11.000 giáo viên có trình độ đại học, trên 8.000 giáo viên có trình độ cao đẳng. Cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập, công trình thể thao, dụng cụ tập luyện thi đấu thể thao ở trường học các cấp đã bước đầu được quy hoạch và đầu tư xây dựng. Công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học đã có những chuyển biến. Cả nước có trên 80% số trường học thực hiện tốt chương trình giáo dục thể chất chính khoá có nền nếp theo quy định; có trên 60% số trường học có hoạt động thể thao ngoại khoá thường xuyên; có 85% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy định. Nhiều nội dung tập luyện được đưa vào các hoạt động ngoại khoá, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Hội khỏe Phù Đổng và các giải thể thao học sinh, sinh viên hàng năm đã thu hút hàng triệu học sinh tham gia.

Tuy nhiên, chương trình giáo dục thể chất và thể thao trong trường học triển khai còn chậm. Các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa nhiều; cơ sở vật chất TDTT và vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên còn thiếu. Số lượng, chất lượng giáo viên TDTT, giáo dục thể chất chưa đáp ứng đủ yêu cầu; một số người vẫn nhận thức giáo dục thể chất và thể thao trong trường học là môn phụ.

Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang luôn được quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Huấn luyện thể lực trong quân đội là một trong 4 nội dung huấn luyện quân sự bắt buộc đối với từng quân nhân. Tỷ lệ trung bình về số quân nhân tham gia tập luyện thường xuyên so với quân số biên chế tại các đơn vị đạt 68,6%. Nhiều VĐV của quân đội có trình độ cao và giành được nhiều huy chương khi tham gia các giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế. Thể thao trong lực lượng công an nhân dân chú trọng phát triển ở các môn võ thuật, bắn súng, chạy vũ trang nhằm phục vụ trực tiếp cho tác nghiệp chuyên môn, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ, chiến sỹ. Nhìn chung các quy định của Luật TDTT về TDTT trong lực lượng vũ trang cơ bản phù hợp với tình hình thực tiễn, nêu cao trách nhiệm của Nhà nước, các Bộ, ngành, đơn vị có liên quan và quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng cán bộ, chiến sỹ đối với hoạt động này. TDTT trong lực lượng vũ trang từng bước đi vào ổn định, vừa thực hiện nhiệm vụ huấn luyện phục vụ sẵn sàng chiến đấu, vừa góp phần vào thành tích thể thao chung của đất nước.

(Ths. Nguyễn Hồng Kiên)


Bình luận (0)
Gửi