rss
Thứ năm, 20/09/2018 | 11:00 GMT+7

Những bí mật về doping

Cập nhật 14:26 ngày 02/12/2017
(Quốc tế) - Vấn nạn sử dụng doping trong thể thao được nói đến liên tục. Vậy chính xác thì doping là gì và tại sao vấn đề này lại được quan tâm như vậy?

Hình ảnh: Những bí mật về doping số 1

Doping là gì?

Doping có nghĩa các VĐV sử dụng những chất cấm để cải thiện thành tích của họ. Uỷ ban chống doping thế giới (WADA) đã xác định 5 loại chất cấm, trong đó phổ biến nhất là những chất kích thích và hormone. Việc sử dụng các loại chất cấm đều có nguy hại đến sức khỏe và đây là lý do giải thích tại sao chúng không được WADA cho phép lưu hành.

Cũng theo WADA, những chất và phương pháp bị cấm khi chúng thỏa mãn 2 trong 3 tiêu chí sau: cải thiện thành tích, đe dọa đến sức khỏe VĐV hay vi phạm tinh thần thể thao.

Việc sử dụng chất kích thích và chất tăng cường thể lực trong thể thao đã xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, trong những năm 1920, người ta mới bắt đầu nghĩ đến việc han chế sử dụng thuốc trong thể thao. Năm 1928, Hiệp hội các liên đoàn điền kinh quốc tế (IAAF) đã trở thành liên đoàn thể thao quốc tế đầu tiên cấm doping.

Đến năm 1966, hai liên đoàn xe đạp và bóng đá là những liên đoàn đầu tiên áp dụng các phương pháp kiểm tra doping trong phạm vi giải thi đấu của mình. Hai năm sau, Olympic mùa đông ở Grenoble và Olympic mùa hè ở Mexico cũng sử dụng phương pháp tương tự. Cho tới những năm 1970, hầu hết các liên đoàn thể thao quốc tế đều tiến hành kiểm tra doping.

Mặc dù thế, sau scandal tại Tour de France năm 1998, người ta nhận thấy thể thao cần có một cơ quan quốc tế độc lập để đặt ra những quy định trong phòng chống doping. Đây là lý do để một năm sau, WADA ra đời.

Tháng 1/2013, cựu cua-rơ người Mỹ là Lance Armstrong đã thừa nhận có dùng doping trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình của Oprah Winfrey. Trước đó, Armstrong đã bị tước bỏ 7 danh hiệu Tour de France và bị cấm tham gia vào các hoạt động thể thao quốc tế suốt đời.

Hay trong tháng 12/2014, một bộ phim tài liệu của Đức khẳng định 99% VĐV của Nga đều dùng doping, trước khi tờ Sunday Times và kênh ARD công bố kết quả hơn 12.000 mẫu thử của 5.000 VĐV từ năm 2001 đến 2012, trong đó có những VĐV giành HCV Olympic và thế giới có dương tính với các chất cấm.

Mọi người sử dụng chất nào?

Những chất được sử dụng phổ biến nhất là những chất kích thích hormone nam như anabolic steroids. Những chất này cho phép các VĐV luyện tập tích cực hơn, phục hồi nhanh hơn và cơ bắp phát triển hơn. Tuy nhiên, chúng sẽ làm hỏng thận của người sử dụng và khiến tính cách của họ trở nên hung hăng hơn.

Hình ảnh: Những bí mật về doping số 2

Ngoài ra, tác dụng phụ của anabolic steroids sẽ làm VĐV rụng tóc, tinh trùng yếu đi, trong khi ở các VĐV nữ, họ sẽ mọc râu ở mặt và giọng nói trở nên ồm ồm.

Hiện nay, anabolic steroids thường có dạng viên để uống hoặc tiêm vào cơ bắp. Cũng có một số loại chỉ cần bôi vào da dưới dạng kem hoặc gel.

Loại chất cấm thứ hai được nói đến là chất kích thích có thể giúp các VĐV trở nên tỉnh táo và vượt qua sự mệt mỏi bằng cách tăng nhịp tim và tuần hoàn máu. Mặc dù thế, đây đều là chất gây nghiện và trong một số trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến đột qụy.

Bên cạnh đó, nhiều VĐV còn sử dụng những chất lợi tiểu và ngụy trang để giảm bớt chất dịch trong cơ thể, giúp che giấu các chất cấm hay ở những môn như quyền Anh và đua ngựa, chúng giúp VĐV trở nên “nhẹ nhàng”.

Còn những chất Narcotic analgesics và cannabinoids được sử dụng để giảm đau do chấn thương hoặc mệt mỏi nhưng thực tế có thể khiến chấn thương thêm trầm trọng. Đây cũng là những chất gây nghiện. Nhìn chung, các sản phẩm như morphine và oxycodone đều bị cấm nhưng codeine giảm đau vẫn được WADA cho phép sử dụng.

Rồi đến những hormone chuỗi. Đây là những chất như EPO (erythropoietin) - có tác dụng tăng cơ, sức mạnh và hồng cầu để giúp VĐV khỏe hơn - và HGH (hormone tăng trưởng) có tác dụng tăng cơ.

Ít được sử dụng hơn là doping máu. Ở phương pháp này, máu được lấy khỏi cơ thể và tiêm trở lại sau đó để tăng nồng độ oxy. Tuy nhiên, nếu sử dụng liên tục, thận và tim sẽ có vấn đề.

Còn sử dụng glucocorticoids để giảm đau nhưng chất này sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi carbohydrates, chất béo và proteins...

Trong khi đó, Beta blockers được sử dụng trong chữa trị bệnh tim và huyết áp cao cũng bị cấm ở những môn thể thao như bắn cung và bắn súng vì chúng sẽ giúp giảm nhịp tim và chứng run tay.

Doping được phát hiện như thế nào?

Phần lớn các cuộc kiểm tra doping đều sử dụng kỹ thuật quen thuộc lâu nay gọi là phép đo phổ. Phương pháp này được thực hiện bằng cách bắn một chùm electron vào mẫu nước tiểu để i-on hóa, biến các nguyên tử thành hạt tích điện bằng cách thêm hoặc bớt electron. Mỗi chất mà mẫu thử chứa đựng có một “dấu vân tay” duy nhất và khi các nhà khoa học biết rõ trọng lượng của steroids, họ có thể nhanh chóng phát hiện ra doping.

Hình ảnh: Những bí mật về doping số 3

Mặc dù thế, hệ thống kiểm tra này cũng có những trở ngại. Chẳng hạn như có một số chất doping nhỏ đến mức chúng không tạo ra đủ dấu hiệu để có thể bị phát hiện. Hay kiểm tra máu có khả năng phát hiện ra EPO và những phần tử mang oxy nhân tạo nhưng không phát hiện ra quá trình truyền máu. Cũng vì thế mà hộ chiếu sinh học được sử dụng nhằm phục vụ cho những cuộc kiểm tra như thế này. WADA đã đưa phương pháp hộ chiếu sinh học vào sử dụng từ năm 2009 và nó sẽ giúp phát hiện ra các ảnh hưởng của doping, thay vì tìm ra một chất hay phương pháp sử dụng.

Hộ chiếu sinh học là một hồ sơ điện tử về một VĐV và lưu trữ dữ liệu trong suốt sự nghiệp của họ. Nếu những dữ liệu này thay đổi đột ngột, người ta sẽ biết được VĐV có thể đang dùng doping.

Chính nhờ áp dụng những phương pháp hiện đại nên từ lâu, thể thao đã phơi bày được nhiều scandal. Trước vụ Armstrong, Ben Johnson có lẽ là VĐV nổi tiếng nhất sử dụng chất cấm. VĐV chạy nước rút người Canada có dương tính với anabolic steroids tại Olympic Seoul năm 1988. Johnson đã về nhất ở nội dung 100m với thành tích 9,79 giây.

Sau Johnson, một loạt VĐV chạy nước rút khác cũng bị phát hiện sử dụng doping có Dwain Chambers, Linford Christie, Justin Gatlin hay Marion Jones.

Cuộc chiến chống doping bước sang trang mới

Mới đây, cựu vô địch Olympic ở đường chạy 1.500m là Lord Coe đã đắc cử chủ tịch IAAF và ông tuyên bố sẽ nỗ lực hết mình trong chiến dịch làm trong sạch thể thao. Trong khi đó, Liên đoàn xe đạp quốc tế (UCI) đã giới thiệu phương pháp kiểm tra doping trong 24 giờ hồi đầu năm nay. Trước đó, người ta không thể kiểm tra từ 11 giờ đêm đến 6 giờ sáng và đây là khoảng thời gian giúp một số chất như EPO không bị phát hiện.

Ngoài ra, WADA cũng giới thiệu chế tài phạt chặt chẽ hơn như cấm VĐV sử dụng doping trong 4 năm thay vì 2 năm như trước.

Bảo Anh

Bình luận (0)
Gửi