rss
Thứ bảy, 17/11/2018 | 12:38 GMT+7

Phân tích bối cảnh, đánh giá triển vọng phát triển của các hội thể thao quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế - Kỳ 1

Cập nhật 00:00 ngày 18/07/2018
(Lý luận & Thực tiễn) - Phân tích bối cảnh vĩ mô, từ đó đánh giá triển vọng phát triển của các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia ở nước ta là một việc làm cần thiết, làm cơ sở xây dựng chính sách và đề xuất các giải pháp phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các tổ chức hội thể thao ở cấp quốc gia. Chúng tôi dựa trên phân tích 4 yếu tố cơ bản là chính trị và pháp luật (P), kinh tế (E), văn hóa - xã hội (S) và công nghệ (T) để đánh giá triển vọng của các liên đoàn, hiệp hội thể thao. Kỳ 1: Chính trị và pháp luật
Yếu tố chính trị và pháp luật thể hiện ở thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, hoạt động đối ngoại và vai trò của Chính phủ.
 
Chính trị
Việt Nam là đất nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị được thực hiện theo cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo toàn diện, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội. Môi trường chính trị ổn định, điều kiện an ninh tốt là những yếu tố cơ bản khiến cho Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài và được coi là một trong những điểm đến an toàn.
Lĩnh vực thể dục thể thao luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, thể hiện qua việc Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về lãnh đạo công tác thể dục thể thao qua từng thời kỳ. Tiếp sau Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 23/10/2002 của Ban Bí thư (Khóa IX) về "phát triển thể dục thể thao đến năm 2010", ngày 01/12/2011, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020". Tại Nghị quyết số 08-NQ/TW, nhiệm vụ về phát triển các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp về TDTT được xác định khá cụ thể: "Phát huy vai trò của Ủy ban Olympic quốc gia, các liên đoàn, hiệp hội thể thao trong việc điều hành các hoạt động thể thao. Nghiên cứu việc hình thành hệ thống tổ chức xã hội mang tính liên hiệp về thể dục, thể thao từ cơ sở đến toàn quốc, để tập hợp và điều phối chung đối với các tổ chức xã hội về thể dục, thể thao, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, có sự quản lý và hỗ trợ về tài chính của Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức xã hội, các cơ sở thể thao ngoài công lập tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao".
 
Pháp luật
Trong những năm qua, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TDTT liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp về TDTT ở nước ta.
Hình ảnh: Phân tích bối cảnh, đánh giá triển vọng phát triển của các hội thể thao quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế - Kỳ 1 số 1
 
Luật Thể dục thể thao ban hành năm 2006 đã giành 01 Chương riêng quy định về Ủy ban Olympic Việt Nam và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao. Trong đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Olympic Việt Nam được quy định tại Điều 68, Điều 69; nhiệm vụ và quyền hạn của liên đoàn thể thao quốc gia được quy định tại Điều 71 và 72 của Luật.
Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thể dục, thể thao cũng có một số nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan tới liên đoàn thể thao quốc gia.  Cụ thể là xác định rõ hơn trách nhiệm và thẩm quyền của Liên đoàn thể thao quốc gia trong việc quản lý các giải thể thao quốc gia và giải thể thao quốc tế tại Việt Nam (Điều 38, 39a, 39); công nhận cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ đủ tiêu chuẩn thi đấu thể thao thành tích cao (Điều 71). Lý do của việc sửa đổi, bổ sung này là để tăng cường xã hội hoá các hoạt động thể thao và tạo điều kiện để các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao phát huy tối đa vị trí, vai trò của mình trong phát triển phong trào, trong tổ chức thực hiện các hoạt động tác nghiệp, cần thiết bổ sung thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn của Liên đoàn thể thao quốc gia.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thể dục, thể thao cũng đưa ra một nội dung pháp luật mới, đó là quy định về hoạt động đặt cược thể thao (Điều 68a). Đây là quy định quan trọng, mở ra triển vọng phát triển cho nhiều hội thể thao ở nước ta trong việc khai thác hoạt động đặt cược thể thao khi được hợp pháp hóa, để vừa huy động nguồn lực từ hoạt động này, vừa nâng cao chất lượng, tính hấp dẫn của hoạt động tổ chức thi đấu thể thao.
Về tổ chức và hoạt động của hội, Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2020/NĐ-CP cùng các Thông tư hướng dẫn đã có những quy định tương đối cụ thể về tổ chức, hoạt động và quản lý đối với các hội ở nước ta. Ngày 02/01/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BVHTTDL quy định một số nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hội thể thao quốc gia.
Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Ngày 16/6/2014, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 69/2008/NĐ-CP. Bộ Tài chính có các Thông tư 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 và Thông tư số 156/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 69/2008/NĐ-CP.
Các chính sách khuyến khích xã hội hóa được ban hành bao gồm 5 nhóm chính sách: 1. Chính sách hỗ trợ về đất và cơ sở vật chất (cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất; giao đất, cho thuê đất miễn tiền thuê đất hoặc miễn tiền sử dụng đất); 2. Chính sách ưu đãi về thuế và lệ phí (miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, lệ phí trước bạ); 3.Chính sách ưu đãi về vốn và tín dụng (được vay vốn tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ sau đầu tư; được huy động vốn dưới dạng góp cổ phần hoặc huy động thông qua hợp tác, liên kết để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất); 4. Chính sách bảo hiểm; 5. Chính sách khen thưởng.
 
Đối ngoại
TDTT là một trong những lĩnh vực đi đầu trong quá trình hội nhập quốc tế và lĩnh vực TDTT cũng sớm thích nghi với xu thế hội nhập quốc tế. Trong Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 đã có những nhận định về xu thế quốc tế và bối cảnh trong nước liên quan đến hội nhập quốc tế về TDTT. Hội nhập quốc tế luôn được xác định vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp để phát triển TDTT, giúp Thể thao Việt Nam thực hiện chiến lược "đi tắt, đón đầu" hiệu quả nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách đối với các nền thể thao tiên tiến ở châu lục và thế giới.
Trong tiến trình hội nhập quốc tế về thể thao ở nước ta, các hội thể thao quốc gia đóng vai trò là tác nhân chủ đạo. Vai trò chủ đạo này được hình thành một cách "tự nhiên", bởi ngay từ khi được thành lập, hội thể thao quốc gia đã được trao quyền đại diện cho Thể thao Việt Nam hoặc đại diện cho Việt Nam trong môn thể thao để tham gia các hoạt động của các tổ chức thể thao quốc tế tương ứng.
Quá trình hội nhập quốc tế về thể thao diễn ra trong bối cảnh nước ta đang tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế đang từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và trong mắt các nhà đầu tư.
Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 10 FTA song phương và đa phương với các đối tác trong khu vực và trên thế giới, bao gồm: Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và 5 FTA ASEAN +1 (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand; 4 FTA song phương giữa Việt Nam với Nhật Bản (VJEPA), với Hàn Quốc (KVFTA), với Chile (VCFTA) với Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEUFTA). Việt Nam cũng đã cơ bản kết thúc đàm phán FTA với EU, cùng ASEAN ký FTA với Hong Kong vào tháng 11/2017. Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục đàm phán Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Đến nay, có khoảng 60 nền kinh tế đã và đang đàm phán FTA với Việt Nam, bao gồm các đối tác thương mại chủ chốt nắm giữ khoảng 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam.
Việc thực thi các FTA nói trên đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ tri thức, kinh nghiệm quản lý, tạo thêm nhiều việc làm…
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng đã tạo ra cơ hội nhưng cũng đưa lại nhiều thách thức; tác động rộng lớn đến cơ cấu và sự phát triển kinh tế thế giới, mở ra triển vọng mới cho mỗi nền kinh tế tham gia vào phân công lao động toàn cầu; đồng thời mỗi biến động của nền kinh tế thế giới đều tác động đến các quốc gia, nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ hội nhập và trình độ thích ứng của nền kinh tế mỗi nước.
Giao lưu và hội nhập quốc tế về TDTT đang diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để khẳng định vị trí của thể thao Việt Nam trên đấu trường khu vực và thế giới. Quá trình thi đấu, giao lưu, hội nhập quốc tế về thể dục thể thao có khả năng tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo, đặc điểm, hoạt động thể dục thể thao; giúp sự liên kết giữa các quốc gia trong từng khu vực thông qua vai trò của các tổ chức thể thao quốc tế ngày càng chặt chẽ. Yếu tố này đòi hỏi các hội thể thao quốc gia là những tổ chức nắm giữ vai trò nòng cốt trong quá trình hội nhập quốc tế về thể thao, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò, vị thế để có thể hội nhập quốc tế thành công.
 
Chính phủ
Chính phủ rất quan tâm đến công tác thể dục thể thao nói chung cũng như tổ chức và hoạt động của các hội thể thao quốc gia nói riêng. Ngày 03/12/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020. Các nhiệm vụ liên quan tới củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các hội thể thao quốc gia đã được đề cập khá cụ thể tại Chiến lược phát triển dục thể thao đến năm 2020, cụ thể là: " Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các Liên đoàn - Hiệp hội thể dục, thể thao: a) Đẩy mạnh công tác triển khai thực hiện chuyển giao từng bước các hoạt động tác nghiệp trong lĩnh vực thể dục, thể thao cho các Liên đoàn - Hiệp hội thể dục, thể thao; b) Tiếp tục phát triển hệ thống Liên đoàn - Hiệp hội thể dục, thể thao; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này để phát huy vai trò tích cực của hệ thống Liên đoàn – Hiệp hội thể dục, thể thao trong sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao Việt Nam giai đoạn 10 năm tới".
Thực hiện Chiến lược trên, ngành TDTT đã có nhiều đề án, chương trình hành động cụ thể để triển khai chiến lược. Các nhiệm vụ chủ yếu như: phát triển mạng lưới các hội thể thao quốc gia, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của các tổ chức này; từng bước chuyển giao hoạt động tác nghiệp về TDTT cho các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp về TDTT đã và đang được ngành TDTT tích cực triển khai.
Cùng với Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020,  Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược phát triển bóng đá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật thể dục thể thao quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Nhìn chung, các yếu tố chính trị - pháp luật ở nước ta là tương đối thuận lợi để tổ chức và triển khai hoạt động của các hội thể thao quốc gia.

 

Tần Lê Minh, Vụ TCCB, Tổng cục TDTT


Bình luận (0)
Gửi