rss
Thứ bảy, 18/11/2017 | 21:05 GMT+7

Phong trào thể dục thể thao quần chúng của thành phố Hải Phòng theo tinh thần xã hội hóa, thực trạng và giải pháp

Cập nhật 14:11 ngày 28/07/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Trên cơ sở đánh giá thực trạng phong trào thể thao quần chúng của thành phố Hải Phòng, để lựa chọn và ứng dụng một số giải pháp thích hợp, có tính khả thi góp phần phát triển sâu rộng phong trào thể thao quần chúng của thành phố trong giai đoạn hiện nay.
1. Đặt vấn đề:
 
 
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, thì công tác TDTT cần tiếp tục đổi mới, tạo nền tảng về các mặt cho những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc của sự nghiệp TDTT vào năm 2020, khi nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại[2].
 
Theo đánh giá của Sở VH, TT&DL thành phố Hải Phòng, công tác TDTT quần chúng của thành phố đã đạt được nhiều thành tích quan trọng, tiêu biểu như: phòng trào TDTT quần chúng tiếp tục ổn định, phát triển sâu rộng; từng bước nâng cao chất lượng tổ chức, thu hút được đông đảo các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân tham gia. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện XHH TDTT của thành phố Hải Phòng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại, hạn chế; đó là: Nhận thức về XHH TDTT ở một bộ phận cán bộ, nhân dân còn chưa đầy đủ, quy mô XHH TDTT còn hạn hẹp, chưa tương xứng với tiềm năng và chưa huy động được các nguồn lực để phát triển rộng rãi phong trào ở cơ sở. Công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện chủ trương XHH TDTT ở một số đơn vị cơ sở còn lúng túng; cơ chế chính sách chưa đồng bộ, thiếu và chậm hướng dẫn cụ thể, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu, chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao; không khai thác hết công suất cơ sở vật chất đã đầu tư; mức độ phát triển XHH TDTT còn thấp ở khu vực ngoại thành và vùng xa, vùng khó khăn[3],[4].
 
Từ các tiếp cận trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phong trào thể thao quần chúng của thành phố Hải phòng.Thực trạng và giải pháp”.
 
 
Để giải quyết vấn đề nêu trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thường quy đó là: Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp toán học thống kê.
 
2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
 
 2.1. Thực  trạng về phong trào TDTT quần chúng của thành phố Hải Phòng
 
Theo số liệu báo cáo năm 2014 tính từ 01/01/ 2014 đến 31/12/2014 của Sở văn hóa thể thao và du lịch Hải Phòng cho thấy phong trào TDTT toàn thành phố có sự phát triển và tương đối ổn định cụ thể:
 
Hình ảnh: Phong trào thể dục thể thao quần chúng của thành phố Hải Phòng theo tinh thần xã hội hóa, thực trạng và giải pháp số 1
 
Ưu điểm: Công tác TDTT của thành phố Hải Phòng đã căn bản đạt được các chỉ tiêu theo thiết chế Văn hóa-TDTT cơ sở, nhiều chỉ tiêu đạt khá cao; Đơn cử như: Trường học đảm bảo chương trình nội khóa, ngoại khóa, từ 82.0 đến 100% số trường; Số người tập TDTT thường xuyên đạt tỷ lệ 29.2% (nữ 67.003 người đạt 12.5%);...Tuy vậy nhiều chỉ tiêu đạt chưa cao, như: về tỷ lệ % số gia đình thể thao về cơ bản thấp hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước (12.0%; toàn quốc đạt 18.6%; Theo số liệu điều tra khảo sát năm 2014 toàn thành phố Hải Phòng có 1.550.725m2 đất đang sử dụng cho hoạt động TDTT, theo đó tỉ lệ đất dành cho thể thao trên đầu người mới đạt là 0.58m2/người…
 
Hạn chế, thách thức: Phong trào TDTT quần chúng phát triển mạnh nhưng chưa đều, chất lượng chưa cao, đặc biệt ở các thôn, xã, trong các trường phổ thông, trung tâm xã còn thiếu các phương tiện tập luyện và cán bộ hướng dẫn. Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động tập luyện thể thao ngoại khoá của học sinh chưa có bước chuyển biến mạnh mẽ. Quản lý nhà nước về TDTT còn chậm đổi mới do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. XHH TDTT ở một số xã miền biển đảo gặp nhiều khó khăn do đời sống kinh tế - xã hội hạn chế, đang đặt ra nhiều vấn đề mới, nhiều thử thách mới đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu khai thác tiềm lực cho TDTT cơ sở.
 
Hiện có 80% xã, phường, thị trấn và 100% quận, huyện đã thực hiện quy hoạch đất cho các công trình TDTT, tuy nhiên, diện tích đất cho hoạt động TDTT hiện nay bình quân đầu người trên địa bàn thành phố mới đạt 2.35m2/người. Tuy nhiên do chưa có nguồn vốn xây dựng nên các công trình được quy hoạch cho thể thao Hải Phòng chưa được xây dựng.
 
Bảng 3. Thống kê số liệu học sinh các trường THPT,THCS, Tiểu học thành phố Hải Phòng (năm2014)

TT

Tên quận/huyện

Tổng số trường

Tổng số HS

Tổng số GV chuyên trách

Số trường đảm bảo hoạt động ngoại khóa

N

%

1.

Dương Kinh

14

5880

24

8

57.1

2.

Hải An

15

7050

27

8

53.3

3.

Kiến An

24

6750

41

16

66.7

4.

An Lão

44

18.480

73

37

84.1

5.

Kiến Thụy

40

20.947

55

30

75.0

6.

Thủy Nguyên

78

32.761

126

56

71.8

7.

Ngô Quyền

18

7385

34

12

66.7

8.

Đồ Sơn

13

5232

23

7

53.8

9.

Hồng Bàng

21

9876

43

16

76.2

10.

Lê Chân

25

11526

39

17

68.0

11.

An Dương

36

16.632

61

25

69.4

12.

Cát Hải

18

7216

29

11

61.1

13.

Tiên Lãng

53

24.009

98

42

79.2

14.

Vĩnh Bảo

63

30.874

107

51

80.9

15.

Bạch Long Vỹ

2

125

2

2

100

Tổng số

464

283673

782

338

70.9

 
 
Tương ứng với số lượng 464 trường phổ thông các cấp ở thành phố Hải Phòng là khoảng 8165 lớp học của 283.673 học sinh, với 8165 lớp học sẽ có 8165 giáo viên chủ nhiệm, cùng với 782 giáo viên chuyên trách TDTT. Đây là một lực lượng hùng hậu đối với một thành phố như Hải Phòng để thực hiện chủ trương phát triển TDTT theo định hướng XHH TDTT trường học.
 
Phân tích tình hình thực tế, các báo cáo tổng kết công tác TDTT và kết quả khảo sát tại địa phương cho thấy, vẫn còn không ít cấp ủy Đảng, Chính quyền cơ sở còn chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của TDTT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do đó còn coi nhẹ và chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác TDTT. Công tác kiểm tra đánh giá của cấp uỷ Đảng, Chính quyền về kết quả triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đối với công tác TDTT chưa được tiến hành thường xuyên, còn thụ động, phụ thuộc vào cấp trên.
Tổ chức bộ máy TDTT ở xã, phường, thị trấn chưa thống nhất, thiếu đồng bộ do vậy hoạt động còn kém hiệu quả, hầu hết cán bộ TDTT, hướng dẫn viên TDTT ở cơ sở chưa được trang bị kiến thức và kỹ năng tổ chức, điều hành các hoạt động TDTT. Nhiều xã chưa có tổ chức, chưa có cán bộ và điều kiện để hoạt động TDTT. Cơ chế, chính sách để phát triển TDTT ở các vùng nông thôn vừa thiếu vừa không đồng bộ và chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở nông thôn, nhất là việc quy hoạch đất dành cho hoạt động TDTT và bố trí cán bộ TDTT. Hiện nay quỹ đất mới đáp ứng 30% nhu cầu hoạt động TDTT của nhân dân.
 
Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động tập luyện thể thao ngoại khoá của học sinh chưa có bước chuyển biến mạnh mẽ. Hiện còn thiếu rất nhiều sân bãi, phương tiện dụng cụ, công trình thể thao phục vụ tập luyện thi đấu và vui chơi giải trí của học sinh trong mỗi nhà trường. Giáo viên thể dục còn thiếu, nhất là cấp tiểu học và chưa an tâm với nghề, môn học thể dục chưa được coi trọng, chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng,...
 
Quản lý nhà nước về TDTT còn chậm đổi mới do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. XHH TDTT đang đặt ra nhiều vấn đề mới, nhiều thử thách đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.
 
2.2. Đề xuất giải pháp phát triển thể dục thể thao phong trào của thành phố Hải Phòng theo tinh thần xã hội hóa
 
- Các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước về phát triển TDTT cơ sở gắn với phát triển văn hóa - xã hội và tiêu chí xây dựng Nông thôn mới.
 
- Các giải pháp có tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; phù hợp đời sống văn hóa theo đặc thù của địa phương; lồng ghép với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của đại đa số nhân dân, vì dân và do dân, kết hợp XHH TDTT thông qua phương châm nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển TDTT cơ sở.
 
- Nội dung, hình thức và tổ chức họat động, tập luyện TDTT của quần chúng đa dạng, kết hợp tính dân tộc, hiện đại và khoa học đối với từng đối tượng, độ tuổi, giới tính và phát triển bền vững.
 
Căn cứ Luật Thể dục, thể thao được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, các văn bản của Chính phủ, Thông tư của Bộ VHTTDL hướng dẫn quản lý nhà nước về các hoạt động TDTT.
 
Trên cơ sở tổng hợp các giải pháp phát triển TDTT trong các văn bản của Đảng và nhà nước, các báo cáo tổng kết công tác TDTT của ngành Văn hóa – thể thao và du lịch ở  trung ương và thành phố Hải Phòng những năm gần đây. Qua hội thảo chuyên đề gồm các nhà quản lý công tác TDTT ở địa phương tổ chức vào tháng 11-2014 tại Hải Phòng để góp ý chọn lựa các giải pháp phát triển TDTT quần chúng, đề tài đã sử dụng phiếu phỏng vấn gồm 10 giải pháp cơ bản. Kết quả được trình bày tại bảng 4
 
Bảng 4.  Kết quả phỏng vấn các chuyên gia về lựa chọn những giải pháp nhằm phát triển phong trào TDTT xã, thị trấn của thành phố Hải Phòng (n = 234)

Nội dung các giải pháp

Rất đồng ý

Đồng ý

Không đồng ý

Tỷ lệ cao nhất

n

%

n

%

n

%

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp

209

89.3

21

9.0

4

1.7

0.89

2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt các chủ trương, chính sách về XHH TDTT

214

91.5

6

2.6

0

0.0

0.91

3. Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về XHH TDTT

198

84.6

27

11.5

9

3.8

0.84

4. Tăng cường công tác xã hội hóa TDTT quần chúng ở cơ sở

212

90.6

10

4.3

12

5.1

0.90

5. Xây dựng và phát triển mối liên kết hệ thống các loại hình CLB TDTT CS

124

53.0

64

27.4

46

19.7

0.53

6. Hoàn thiện hệ thống thiết chế và hoạt động văn hóa, TDTT ở cơ sở

204

87.2

12

5.1

18

7.7

0.87

7. Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho hoạt động TDTT

198

84.6

26

11.1

10

4.3

0.84

8. Xây dựng và phát triển mạng lưới chủ nhiệm CLB, HDV, TT, nhà tài trợ cho CLB TDTT cơ sở

188

80.3

21

9.0

25

10.7

0.80

9. Hình thành và phát triển hệ thống thi đấu TDTT ở cơ sở và các CLB TDTT

132

56.4

64

27.4

38

16.2

0.56

10. Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách từng bước xóa bỏ tình trạng bao cấp dàn trải trong các hoạt động TDTT

146

62.4

57

24.4

31

13.2

0.62

Như vậy với đại đa số ý kiến tán thành, đã lựa chọn 07/10 giải pháp phát triển TDTT quần chúng của thành phố Hải Phòng với tỷ lệ trả lời đạt từ 0.80 đến 0.91, góp phần phát triển phong trào TDTT sâu rộng và bền vững.

3. Kết luận:
 
Công tác TDTT của thành phố Hải Phòng đã căn bản đạt được các chỉ tiêu theo thành phố đề ra cũng như ngành TDTT, nhiều chỉ tiêu đạt khá cao. Tuy vậy, phong trào TDTT quần chúng phát triển mạnh nhưng chưa đều, chất lượng chưa cao, đặc biệt ở các nông thôn làng xã trung tâm xã. Công tác XHH chưa được quan tâm đúng mức do vậy vấn đề phát triển TDTT không bền vững.
 
Kết quả lựa chọn các giải pháp phát triển TDTT quần chúng của thành phố Hải Phòng nhằm góp phần xây dựng phong trào TDTT quần chúng của thành phố theo tinh thần xã hội hóa.
 
TS. Vũ Đức Văn, Ths. Nguyễn Hữu Toán
 
 Tài liệu tham khảo
1. Phạm Thanh Cẩm (2015), Nghiên cứu phát triển thể dục thể thao quần chúng ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội.
2. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 16-NQ/CP, này 14/01/2013 của Chính phủ, về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013), Số 02/BC-SVHTTDL; Báo cáo tổng kết công tác Thể dục thể thao năm 2013, phương hướng nhiệm vụ năm 2014.
4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013), Triển khai thực hiện Thông báo kết luận số 123-TB/TU ngày 06/11/2012 sơ kết 5 năm thực hiện  Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 10/10/207 của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển TDTT  Thành phố Hải phòng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
5. Nguyễn Đức Văn (2000), Phương pháp thống kê trong TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội.
 
Bình luận (0)
Gửi