rss
Thứ bảy, 18/11/2017 | 21:08 GMT+7

Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW: Những tồn tại cần khắc phục

Cập nhật 10:03 ngày 25/08/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Nghị quyết số 08-NQ/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020” được Bộ Chính trị khóa XI ban hành ngày 01/12/2011. Sau hơn 5 năm triển khai, công tác TDTT ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Phong trào TDTT quần chúng phát triển sâu rộng, các chỉ tiêu đều hoàn thành và vượt mục tiêu đề ra. Thành tích thi đấu thể thao tại các kỳ Đại hội và các giải thể thao khu vực, châu lục và thế giới tiếp tục được nâng lên. Hợp tác quốc tế về TDTT được mở rộng và có chiều sâu. Huy động được nhiều nguồn lực đầu tư của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài. Dù vậy, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục để có được kết quả tốt hơn nữa.

Những thành tựu đáng khích lệ

Hầu hết các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về công tác TDTT; trên cơ sở đó đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác TDTT ở từng địa phương. Quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với công tác TDTT.

Trong những năm qua, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho TDTT đã có sự tăng cường; việc quy hoạch đất dành cho TDTT được các địa phương đặc biệt quan tâm; một số tỉnh, thành phố đã đạt và tăng cao so với chỉ tiêu bình quân đất dành cho TDTT, đảm bảo tối thiểu 2-3m2/người dân theo Chương trình phát triển TDTT ở xã, phường, thị trấn.

Tỷ lệ người dân tập luyện TDTT thường xuyên vượt mục tiêu; tỷ lệ gia đình luyện tập TDTT tăng qua các năm, 16% (2011) và 21,2% (2016). Số trường học đảm bảo chương trình GDTC đã đạt mục tiêu Chiến lược phát triển TDTT đề ra, tăng từ 95% (2011) lên 100% (2016).

Phong trào TDTT quần chúng tiếp tục được triển khai sâu, rộng trên địa bàn cả nước, thể hiện ở sự gia tăng về số lượng người tập TDTT thường xuyên, sự phát triển đa dạng của các loại hình tập luyện, các CLB và chất lượng hoạt động ở từng đối tượng. Hoạt động TDTT của người cao tuổi (NCT) được phát triển rộng khắp trên cả nước, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, thị trấn. Cả nước có khoảng 3.500 CLB TDTT của NCT. Việc tập luyện TDTT đã trở thành nhu cầu thiết yếu đối với NCT, góp phần nâng cao sức khỏe, tuổi thọ, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống của NCT.

TDTT quần chúng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có những bước tiến đáng kể. Hoạt động thể thao người khuyết tật (NKT) được quan tâm và ngày càng phát triển, góp phần động viên, cổ vũ, tạo điều kiện cho NKT tham gia tập luyện TDTT, hoà nhập với cộng đồng, đoàn thể thao NKT Việt Nam tham dự và đạt thành tích xuất sắc tại  các đại hội thể thao. 

Trong 5 năm qua, thể thao thành tích cao có nhiều chuyển biến tích cực, thành tích ở một số môn thể thao Olympic được nâng cao. Đặc biệt năm 2016, lần đầu tiên đạt HCV Olympic môn bắn súng qua đó nâng cao vị thế TTVN trên trường quốc tế. Kết quả thi đấu của các môn thể thao trọng điểm, tại các kỳ Đại hội, các giải cấp khu vực, châu lục và thế giới đã đạt thành tích đáng khích lệ. Một số VĐV ở các môn Olympic đạt trình độ hàng đầu châu Á và thế giới.

Hợp tác quốc tế về TDTT ngày càng được mở rộng. Nhiều chương trình hợp tác được ký kết trên các lĩnh vực đào tạo, chuyển giao công nghệ với các quốc gia có nền thể thao phát triển, góp phần quan trọng trong việc thực hiện đường lối đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và nhà nước. Thể thao Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ủy ban Olympic Việt Nam (UBOVN) là thành viên chính thức của Ủy ban Olympic quốc tế (IOC), Hội đồng Olympic châu Á (OCA) và Liên đoàn thể thao Đông Nam Á. Ngoài ra, Việt Nam còn là thành viên chính thức của 64 tổ chức thể thao quốc tế và có trên 30 cán bộ thể thao là thành viên của các tổ chức này.

Những hạn chế và tồn tại

Một số cấp ủy đảng, chính quyền chỉ ban hành các văn bản, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện NQ 08; một vài địa phương, đơn vị còn chưa xác định rõ yêu cầu, nội dung và phương thức triển khai; thiếu kiên quyết trong lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát; chưa tiến hành sơ kết định kỳ hàng năm; nhiều mô hình, cách làm hay, sáng tạo của quần chúng chưa được đánh giá, nhân rộng; phong trào TDTT mang tính tự phát còn phổ biến.

Chưa phát huy cao vai trò của UBOVN và các liên đoàn, hiệp hội thể thao trong việc quản lý, tổ chức các hoạt động thể thao.

Công tác GDTC trong nhà trường mặc dù đã có nhiều tiến bộ song vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu học tập và tập luyện của học sinh, sinh viên.

Thể thao quần chúng đã được quan tâm, đầu tư phát triển nhưng chưa ngang bằng với các lĩnh vực khác. Hệ thống thiết chế thể thao cơ sở, đặc biệt là CSVC phục vụ nhân dân tập luyện còn thiếu, nhất là ở các khu công nghiệp, khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo.

Định hướng phát triển xã hội hóa TDTT chưa phù hợp với bối cảnh hiện nay. Chưa có cơ chế sử dụng đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên TDTT.

Người dân tiếp cận và sử dụng các dịch vụ TDTT gặp nhiều khó khăn. Xuất hiện các hình thức tập luyện thể chất tại cộng đồng theo từng nhóm đối tượng chưa được quản lý chặt chẽ.

Nhiều nơi, việc quản lý sử dụng CSVC còn lãng phí, bỏ hoang hoặc cho thuê với mục đích khác gây lãng phí nguồn lực. Cơ chế quản lý, điều hành tại nhiều Trung tâm TDTT chậm đổi mới, mang tính hành chính hóa.

Một số cơ quan báo chí chưa quan tâm tuyên truyền những nhiệm vụ và giải pháp phát triển TDTT; các mô hình, phương thức phát triển TDTT...

5 giải pháp cấp bách

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 08, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, các Ban, Bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở, các tỉnh, thành cần quan tâm thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp:

1. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, các Ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội và toàn xã hội quán triệt và tích cực thực hiện 3 quan điểm và 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã được đề ra trong NQ số 08. Gắn công tác TDTT với việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào toàn dân đăng ký xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

2. Tăng cường kiểm tra, giám sát của các cấp ủy và chính quyền trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch đất cho TDTT ở các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp. Nâng cao vai trò giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác TDTT; thu hút nhân dân tham gia tập luyện TDTT, xây dựng và phát triển văn hóa, thể chất.

3. Đổi mới tổ chức TDTT theo hướng hội nhập quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là năng lực triển khai thực hiện các chính sách, kế hoạch TDTT. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phân cấp quản lý TDTT. Phát huy vai trò của UBOVN và các liên đoàn, hiệp hội trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động thể thao nhằm huy động các nguồn lực phát triển TDTT.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển TDTT; tuyển chọn, đào tạo và sử dụng VĐV, HLV nhằm phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp.

4. Phát triển phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” theo hướng tăng cường năng lực tổ chức hoạt động TDTT của cộng đồng gắn với việc tổ chức các hoạt động văn hóa và du lịch nhằm phát triển các môn thể thao truyền thống, đồng thời hướng dẫn về chuyên môn và huy động các nguồn lực để nhân dân rèn luyện TDTT.

5. Nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường và đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận với các nước tiên tiến, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của nước ta và xu hướng hội nhập quốc tế nhằm xây dựng và phát triển nền TDTT, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam.

Xây dựng các cơ chế chính sách phát triển nghiên cứu khoa học TDTT trong mối quan hệ với cơ sở đào tạo, huấn luyện VĐV, tổ chức xã hội và doanh nghiệp TDTT. Đẩy mạnh việc ứng dụng chuyển giao các kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động TDTT.

(Ban Biên tập)

Bình luận (0)
Gửi