rss
Thứ bảy, 20/10/2018 | 06:01 GMT+7

SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM

Cập nhật 14:18 ngày 19/09/2018
(Lý luận & Thực tiễn) - Thông qua phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, phương pháp kiểm tra Y học và phương pháp toán học thống kê, nghiên cứu đã được tiến hành trên 720 học sinh trường trung học cơ sở thuộc các khu vực khác nhau của cao nguyên Gia Lai – Kon Tum trong năm học 2011-2012. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiều cao và cân nặng của học sinh từ 12 đến 15 tuổi có sự khác biệt rõ rệt và thấp hơn khi so sánh với kết quả điều tra thể chất nhân dân năm 2001, vấn đề này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và xã hội.

1.Đặt vấn đề

Chiều cao và cân nặng không chỉ là một đặc trưng quan trọng của sự khác biệt về chủng tộc, giới tính, độ tuổi mà còn là một tiêu chí đánh giá về hình thái của những nhóm người thuộc các khu vực khác nhau. Từ thế kỷ 19, học giả Âu Mỹ đã bắt đầu chú ý đến sự ảnh hưởng của môi trường đến chiều cao. Năm 1927 ông Griffith Taylor, nhà nhân chủng học thuộc Đại học Chicago (Mỹ) trong cuốn Con người và môi trường, đã thảo luận một cách có hệ thống mối quan hệ giữa chiều cao với hoàn cảnh địa lý, và vẽ ra biểu đồ phân bố chiều cao con người trên thế giới. Những  năm 70, Giáo sư Bộ Y tế, Đại học Đông Bắc Nhật Bản đã viết cuốn luận văn (Yếu tố môi trường và sự phân bố đại lý của chiều cao con người) [1].

          Tại Việt Nam, Luận án thạc sỹ của Đoàn Thanh Tùng năm 1997, nghiên cứu sự phát triển về hình thái và sức mạnh của học sinh phổ thông từ 11 đến 18 tuổi của tỉnh Đắc Lắc, đã làm rõ sự khác biệt về chiều cao và cân nặng của học sinh thành thị, nông thôn [2].  Năm 2000, Lê Văn Lẫm và cộng sự đã nghiên cứu thực trạng phát triển thể chất học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ thứ 21, đã chỉ ra sự khác biệt về chiều cao và cân nặng của học sinh và sinh viên Việt Nam theo từng vùng miền khác nhau trên toàn quốc [3]. Từ dó đến nay rất ít công trình tìm hiểu có hệ thống về sự khác biệt chiều cao theo vùng miền của học sinh Việt Nam. Đề tài đã lấy số liệu về chiều cao và cân nặng của 720 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 và tìm hiểu bước đầu thảo luận về sự khác biệt chiều cao và cân nặng của học sinh trung học cơ sở (THCS) theo khu vực của cao nguyên Gia Lai – Kon Tum (GL-KT) sau 10 năm điều tra thể chất nhân dân 2001 (ĐTTCND 2001).

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp : Phân tích tổng hợp các tài liệu; Kiểm tra y học; Toán học thống kê.

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại 3 trường THCS theo 3 khu vực thành thị, nông thôn và vùng sâu thuộc cao nguyên GL-KT trong năm học 2011-2012, với sự giúp đỡ của các phòng Giáo dục : thành phố Pleiku; huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai và huyện Komlong, tỉnh Kon Tum.

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :

          Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã thu thập số liệu chiều cao và cân nặng của 720 học sinh của 03 trường THCS thuộc 3 khu vực thuộc cao nguyên GL-KT. Tổng số chỉ tiêu đã thu nhập trên 720 đối tượng là : 720 x 2 chỉ tiêu = 1440 chỉ tiêu.

          Kết quả nghiên cứu được xử lý và đánh giá chỉ tiêu nghiên cứu bằng các tham số n, , , Cv, t và P .

          Để tìm hiểu sự khác biệt về chiều cao và cân nặng theo khu vực  (thành thị, nông thôn và vùng sâu) của học sinh THCS cao nguyên GL-KT dưới tác động của yếu tố kinh tế và xã hội, đề tài tiến hành so sánh kết quả thu được (theo tham số , ) của từng chỉ tiêu với ĐTTCND 2001[6]. Kết quả bảng 1 và 2.

2.1. Về chiều cao,kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng số 1, cho thấy : Ngoại trừ học sinh ở khu vực thành thị chiều cao trung bình của học sinh nam nữ lứa tuổi từ 12 đến 15 là tương đương, còn lại đều thấp hơn và thấp hơn hẳn so với ĐTTCND 2001. Điều này chứng tỏ sau hơn 10 năm chiều cao của học sinh khu vực này không có sự phát triển nhiều, cụ thể :

Bảng 1 : So sánh chỉ số Trung bình chiều cao (cm) của học sinh khu vực cao nguyên Gia Lai – Kon Tum với ĐTTCND 2001 

Độ tuổi

Giới tính

Cao nguyên Gia Lai – Kon Tum (n=720)

ĐTTCND 2001

Thành thị (n1=240)

Nông thôn (n2=240)

Vùng sâu (n3=240)

12

Nam

143,54 ± 7,84

139,3 ± 6,75

136,5 ± 6,29

143,27 ± 8,34

Nữ

144,42 ± 7,38

138,67 ± 6,87

136,21 ± 6,82

144,69 ± 8,34

13

Nam

150,3 ± 7,21

144,86 ± 6,94

140,3 ± 6,77

149,77 ± 8,3

Nữ

147,65 ± 7,38

142,54 ± 6,32

139,53 ± 6,19

148,82 ± 6,33

14

Nam

153,34 ± 7,23

150,83 ± 6,86

144,4 ± 6,42

155,67 ± 7,9

Nữ

150,26 ± 5,74

146,63 ± 6,25

143,72 ± 6,71

151,28 ± 5,53

15

Nam

160,5 ± 7,59

156,52 ± 6,47

153,3 ± 6,32

160,66 ± 6,56

Nữ

151,8 ± 6,23

147,66 ± 6,26

145,35 ± 6,43

152,67 ± 5,16

          + Chiều cao trung bình của nam nữ học sinh thành thị tương đương so với ĐTTCND 2001 ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15 thể hiện qua biểu đồ 1. Ngoại trừ mức chênh lệch 2,33cm ở lứa tuổi 14 với nam, còn lại sự chênh lệch dao động trong khoảng từ 0,27cm đến 1,02 cm ở các lứa tuổi còn lại của cả nam và nữ, sự khác biệt không có ý nghĩa, với P >  0.05.  

Hình ảnh: SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM số 1

Biểu đồ 1. So sánh chiều cao học sinh thành thị với ĐTTCND 2001

          + Chiều cao trung bình của học sinh ở nông thôn thấp hơn so với ĐTTCND 2001 ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15 thể hiện qua biểu đồ 2. Mức chênh lệch 3.97 cm của nam và 6,02 cm của nữ ở lứa tuổi 12; 4.97 cm của nam và 6.32 cm của nữ ở lứa tuổi 13; 4.84 cm của nam và 4.65 cm của nữ ở lứa tuổi 14; 4.14 cm của nam và 5.07 cm của nữ ở lứa tuổi 15. Sự khác biệt có ý nghĩa, với P <  0.01. 

+ Chiều cao của nam và nữ học sinh khu vực nông thôn đều tăng rõ rệt qua từng năm. Từ 12 đến 13 tuổi, mức tăng chiều cao của nam là 5.56 cm, của nữ là 3.87 cm; từ 13 đến 14 tuổi, mức tăng chiều cao của nam đạt 5.97 cm, của nữ là 4.09 cm; từ 14 đến 15 tuổi, nam tăng 5.69 cm, của nữ tăng 1.03 cm. Lứa tuổi 14; và 15 chiều cao của nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với P > 0.05; lứa tuổi 15, chiều cao của nam tốt hơn nữ, khác biệt có ý nghĩa thống kê, với P < 0.01. 

Hình ảnh: SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM số 2

Biểu đồ 2. So sánh chiều cao học sinh nông thôn với ĐTTCND 2001

          + Chiều cao của học sinh nam và nữ khu vực vùng sâu thấp hơn hẳn so với ĐTTCND 2001 ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15 thể hiện ở biểu đồ 3. Mức chênh lệch 6.77cm với nam và 8,48cm với nữ ở lứa tuổi 12; 9.47cm với nam và 9,29cm với nữ ở lứa tuổi 13; 11.27cm với nam và 7.56cm với nữ ở lứa tuổi 14; 7.36 cm với nam và 7,32cm với nữ ở lứa tuổi 15. Sự khác biệt có ý nghĩa, với P <  0.01. 

Hình ảnh: SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM số 3
 

Biểu đồ 3. So sánh chiều cao học sinh vùng sâu với ĐTTCND 2001

+ Chiều cao của nam và nữ học sinh ở cao nguyên GL-KT đều tăng rõ rệt qua từng năm. Từ 12 đến 13 tuổi, mức tăng chiều cao của nam từ 3,8cm đến 6.76cm, của nữ là 3,23 cm đến 3,87cm; từ 13 đến 14 tuổi, mức tăng chiều cao của nam từ 3,04cm đến 5,97cm, của nữ từ 2.61cm đến 4,19cm; từ 14 đến 15 tuổi, nam tăng từ 5,69cm đến 8.9cm, của nữ tăng từ 1.03cm đến 1,63cm. Lứa tuổi 14; và 15 khu vực nông thôn chiều cao của nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với P > 0.05; lứa tuổi 15, chiều cao của nam tốt hơn nữ, khác biệt có ý nghĩa thống kê, với P < 0.01.

          - Chiều cao của học sinh THCS ở thành thị, nông thôn và vùng sâu có sự khác biệt rõ rệt thể hiện qua biểu đồ 4. Nhóm tuổi từ 12 đến 15 tuổi, thì học sinh nam nữ của khu vực thành phố đều cao hơn các em cùng độ tuổi ở nông thôn và hơn hẳn học sinh ở khu vực vùng sâu, lần lượt là 4,24cm - 7,04cm với nam và 5,75cm - 8,21cm với nữ lứa tuổi 12; 5,44cm - 10cm với nam và 5,11cm - 8,12cm với nữ lứa tuổi 13; 2,51cm - 8,94cm với nam và 3,63cm - 6,54cm với nữ lứa tuổi 14; 3,98cm - 7,2cm với nam và 4,14cm – 6,45cm với nữ lứa tuổi 15, khác biệt có ý nghĩa, với P < 0.05 đến 0.01. 

Hình ảnh: SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM số 4
 

Biểu đồ 4. So sánh chiều cao học sinh THCS ở các khu vực khác nhau

2.2. Về cân nặng,kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng số 2, cho thấy : Ngoại trừ học sinh ở khu vực thành thị chiều cao của học sinh nam nữ lứa tuổi từ 12 đến 15 là tương đương, còn lại đều thấp hơn và thấp hơn hẳn so với ĐTTCND 2001. Điều này chứng tỏ sau hơn 12 năm cân nặng của học sinh khu vực này không có sự phát triển nhiều, cụ thể :

Bảng 2 : So sánh chỉ số Trung bình cân nặng (kg) của học sinh khu vực cao nguyên Gia Lai – Kon Tum với ĐTTCND 2001 

Độ tuổi

Giới tính

Cao nguyên Gia Lai – Kon Tum (n=720)

ĐTTCND 2001

Thành thị (n1=240)

Nông thôn (n2=240)

Vùng sâu (n3=240)

12

Nam

35,36 ± 4,12

31,7 ± 3,38

28,36 ± 3,02

33,24 ± 7,38

Nữ

34,62 ± 4,05

28,6 ± 3,62

27,22 ± 2,76

33,84 ± 6,21

13

Nam

38,48 ± 4,84

33,81 ± 4,45

32 ± 3,18

37,8 ± 7,52

Nữ

36,34 ± 4,72

33,15 ± 3,69

31,52 ± 2,26

37,54 ± 6,17

14

Nam

40,6 ± 5,79

36,26 ± 4,55

34,81 ± 3,92

41,87 ± 7,69

Nữ

39,26 ± 5,03

36,37 ± 4,87

34,25 ± 4,1

40,45 ± 5,71

15

Nam

45,5 ± 6,26

41,33 ± 5,07

38,34 ± 4,58

46,66 ± 7,05

Nữ

41,26 ± 5,94

40,15 ± 5,18

38,34 ± 4,51

42,76 ± 5,49

          +  Cân nặng của học sinh khu vực thành thị tương đương với ĐTTCND 2001 và cao hơn khu vực nông thôn và vùng sâu ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15 thể hiện ở biểu đồ 5, sự khác biệt có ý nghĩa với P < 0.05 đến 0.01.

 

Hình ảnh: SỰ KHÁC BIỆT VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG THEO KHU VỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CAO NGUYÊN GIA LAI–KON TUM số 5

Biểu đồ 5. So sánh cân nặng học sinh THCS ở các khu vực khác nhau

2.3. Bàn luận :

+ Chiều cao đứng là một trong những kích thước thông thường thường được xác định trong hầu hết các công trình nghiên cứu về nhân chủng, về hình thái, về sinh lý .v.v… Chiều cao là chỉ tiêu phần lớn phụ thuộc vào di truyền : nam 75%, nữ 92%; Phụ thuộc vào di truyền chủng tộc và gia tộc. Chiều cao tăng trưởng nhanh ở tuổi dậy thì, với nam từ 12-15 tuổi, nữ từ 10-13 tuổi. [1], [5].

Kết quả kiểm tra chiều cao đứng học sinh THCS ở các khu vực khác nhau thuộc cao nguyên GL-KT cho thấy phát triển theo quy luật :

Chiều cao của học sinh THCS khu vực cao nguyên GL-KT, ở khu vực thành thị và nông thôn ở cả 4 nhóm tuổi đều cao hơn hoặc tương đương khi so với chiều cao của học sinh Việt Nam (thời điểm 1996) cùng giới và cùng độ tuổi. Còn lại học sinh ở khu vực vùng sâu có chiều cao thấp hơn khi so với chiều cao của học sinh Việt Nam (thời điểm 1996) cùng giới và cùng độ tuổi.

So sánh với kết quả ĐTTCND 2001, được trình bày trong biểu đồ 1,2 và 3, thấy rằng : Ngoại trừ học sinh ở khu vực thành thị còn lại học sinh ở khu vực nông thôn và vùng sâu khu vực cao nguyên GL-KT ở cả 4 lứa tuổi đều có chiều cao thấp hơn rõ rệt khi so với chiều cao của người Việt Nam cùng độ tuổi. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (1999): Cùng độ tuổi nhưng chiều cao của nam học sinh phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn khu vực nông thôn và các tỉnh đồng bằng, miền núi; Điều này có thể liên quan tới những điều kiện kinh tế - xã hội còn có không ít sự khác biệt giữa các vùng. Tương tự như vậy, kết quả trên cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Eiji Takahashi (1971) : Yếu tố môi trường và sự phân bố địa lý chiều cao của con người [1] ; hoặc nghiên cứu của Lý Tế Dân (1921) : Cùng một độ tuổi, giới tính nhưng có sự khác biệt về chiều cao của người Trung Quốc ở khu vực địa lý khác nhau, nội địa và duyên hải, thành thị và nông thôn, dân tộc thiểu số v.v…[5].   

 Như vậy có thể khẳng định sau hơn 10 năm điều tra thể chất nhân dân (2001), cùng với nhịp độ phát triển chiều cao chung của người Việt Nam, thì chiều cao học sinh thành thị khu vực cao nguyên GL-KT cũng tăng theo, nhưng với học sinh nông thôn và vùng sâu thì mức tăng trưởng rất thấp và hầu như không tăng trưởng đối với học sinh vùng sâu. Để giải thích nguyên nhân của hiện tượng trên, nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh yếu tố môi trường. Rõ ràng, môi trường được cải thiện, điều kiện dinh dưỡng, tiện nghi sinh hoạt và chăm sóc y tế tốt hơn ở thành thị sẽ làm khuynh hướng này phát triển thuận lợi. Ngược lại, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn, chăm sóc y tế hạn chế ở nông thôn và vùng sâu sẽ làm cho khuynh hướng này phát triển chậm lại [2], [5], [7]. 

+ Cân nặng của mỗi người phản ánh mức độ và tỷ lệ giữa hấp thụ và tiêu hao của cơ thể. Một người có đủ dinh dưỡng và hấp thụ tốt thì sẽ tăng cân. Do đó cân nặng là một chỉ tiêu cũng thường dùng để đánh giá thể lực của con người. Cân nặng là chỉ số không cố định, cân nặng của một người thay đổi trong từng ngày, buổi sáng nhẹ hơn buổi chiều, sau một số giờ lao động nặng, sau một buổi tập luyện và một trận đấu TDTT căng thẳng, cân nặng giảm rõ rệt, do sự bốc hơi nước trong cơ thể .

So sánh cân nặng của học sinh Việt Nam cùng giới, cùng tuổi trong kết quả nghiên cứu của Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu và cộng sự (thời điểm 1996)[3], thì cân nặng của học sinh THCS khu vực cao nguyên GL-KT, ở khu vực thành thị và nông thôn ở cả 4 nhóm tuổi đều cao hơn hoặc tương đương, còn lại học sinh ở khu vực vùng sâu, vùng xa có cân nặng thấp hơn.

Tương tự như chiều cao, khi so sánh với kết quả ĐTTCND 2001, được trình bày trong biểu đồ 5, thấy rằng : Ngoại trừ học sinh ở khu vực thành thị còn lại học sinh ở khu vực nông thôn và vùng sâu khu vực cao nguyên GL-KT ở cả 4 lứa tuổi đều có cân nặng thấp hơn rõ rệt khi so với cân nặng của người Việt Nam cùng độ tuổi. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (1999) cho thấy cùng độ tuổi nhưng cân nặng của nam học sinh phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn khu vực nông thôn và các tỉnh đồng bằng, miền núi; nghiên cứu của Phùng văn Mỹ, Nguyễn Văn Lực, Trần Ngọc Bảo, Trịnh Xuân Đàn (1998) về chiều cao và cân nặng của con em dân tộc 6 tỉnh miền núi phía bắc [7] . Hiện trạng đó có thể thấy rõ khi so sánh chiều cao và cân nặng trẻ em 15 tuổi ở các vùng khác nhau, trong đó nét nổi bật là con em dân tộc miền núi, chiều cao và cân nặng còn ở mức thấp, thậm chí chiều cao và cân nặng còn kém hơn cả thời điểm 1996 trong hằng số sinh học người Việt Nam.

3. KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về chiều cao và cân nặng của học sinh lứa tuổi 12 đến 15 ở các khu vực khác nhau của cao nguyên GL-KT, cụ thể :

+ Chiều cao và cân nặng của nam nữ học sinh thành thị tương đương so với ĐTTCND 2001 ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15, sự khác biệt không có ý nghĩa, với P >  0,05.

 + Chiều cao và cân nặng của học sinh khu vực nông thôn và vùng sâu thấp hơn so với ĐTTCND 2001 ở tất cả các lứa tuổi từ 12 đến 15. Sự khác biệt có ý nghĩa, với P <  0,01. 

+ Chiều cao của học sinh THCS ở thành thị, nông thôn và vùng sâu có sự khác biệt rõ rệt. Nhóm tuổi từ 12 đến 15 tuổi, thì học sinh nam nữ của khu vực thành phố đều cao hơn các em cùng độ tuổi ở nông thôn và hơn hẳn học sinh ở khu vực vùng sâu, khác biệt có ý nghĩa, với P < 0.05 đến 0.01. 

 + Chiều cao và cân nặng của học sinh cao nguyên GL-KT cũng như ở các địa phương khác hoặc ở các nước khác là phát triển theo lứa tuổi. Mức độ phát triển thể chất phù hợp với quy luật phát triển sinh học, đặc điểm, điều kiện vùng miền và có xu hướng tăng dần theo tuổi. Tuy vậy, vấn đề hạn chế về chiều cao và cân nặng so với ĐTTCND 2001 còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, thành phần xã hội và công tác giáo dục, đặc biệt là GDTC và điều kiện sinh hoạt văn hóa./. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Eiji Takahashi, Geographic distribution of human stature and environmental, Soc.Nipon, No.3, pp.269-285.
  2. Đoàn Thanh Tùng (1997), Nghiên cứu sự phát triển về hình thái và sức mạnh của học sinh phổ thông từ (11-18 tuổi) của tỉnh Đắc Lắc, Luận án Thạc sĩ Giáo dục học, trường Đại học TDTT II, thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu và cộng sự (2000), Thực trạng phát triển thể chất học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI, Nxb TDTT, Hà Nội.
  4. Vũ Đức Thu và cộng sự (1998), “Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học GDTC, sức khoẻ trong trường học các cấp, Nxb TDTT, Hà Nội.
  5. 李济民(1925年),中国人种之构成,《科学》,第11月号。
  6. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái và cộng sự (2003), Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi, Nxb TDTT, Hà Nội.
  7. Phùng Văn Mỹ và cộng sự (1998), “Thực trạng thể lực của trẻ em trong độ tuổi học đường các dân tộc ít người miền núi phía bắc”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục sức khỏe thể chất trong nhà trường các cấp, Nxb TDTT, Hà Nội.

TS. Trần Hữu Hùng, ThS. Võ Đình Hợp

Trường Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng

Khoa Giáo dục thể chất – Đại học Đà Nẵng

Bình luận (0)
Gửi