rss
Thứ tư, 18/10/2017 | 05:36 GMT+7

Sửa đổi, bổ sung Luật TDTT: Cần một cơ chế thoáng!

Cập nhật 10:32 ngày 22/05/2017
(Pháp luật TDTT) - Đằng sau những thành công của Thể thao Việt Nam không chỉ là sự phấn đấu của mỗi cá nhân VĐV mà còn là sự nỗ lực của ngành thể thao, cũng như hiệu quả từ chính sách pháp luật đối với TDTT nói chung và thể thao thành tích cao nói riêng. Con đường vươn tới đỉnh cao đầy gian nan và thử thách, cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội cũng như các chính sách của nhà nước cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của thể thao nước ta.

Những bước phát triển đột phá

Qua hoạt động khảo sát của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tiến hành tại TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, An Giang, Hải Phòng, Phú Thọ tiến hành từ tháng 2 - 3/2017 có thể nhận thấy, sau 10 năm thực hiện Luật Thể dục, Thể thao (TDTT), công tác quản lý nhà nước về TDTT đã đạt được những kết quả nhất định, hiệu lực hiệu quả quản lý được nâng cao, hệ thống cơ sở đào tạo tài năng thể thao thành tích cao từng bước hoàn thiện và có sự chỉ đạo quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, chế độ chính sách cho VĐV, HLV đã và đang được hoàn thiện. Bộ VHTTDL đã tăng cường công tác quản lý nhà nước, tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược phát triển TDTT, đặc biệt là về thể thao thành tích cao. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020”; Luật TDTT được Quốc hội ban hành năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007. Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành 1 nghị quyết, 3 nghị định, 11 quyết định, 2 thông tư có liên quan đến TDTT; trong đó lĩnh vực thể thao thành tích cao (TTTTC) đã được điều chỉnh bằng hệ thống văn bản pháp quy toàn diện nhất so với các lĩnh vực khác của hoạt động TDTT.

Hình ảnh: Sửa đổi, bổ sung Luật TDTT:  Cần một cơ chế thoáng! số 1

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng khảo sát việc thực hiện Luật Thể dục, thể thao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Hoạt động TTTTC có nhiều chuyển biến. Công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV năng khiếu, VĐV trẻ có nhiều đổi mới. Cơ sở vật chất phục vụ thể thao thành tích cao tiếp tục được đầu tư nâng cấp, mở rộng. Các Trung tâm HLTT quốc gia tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng, thường xuyên phục vụ khoảng trên 2.000 VĐV đội tuyển quốc gia, VĐV đội tuyển trẻ quốc gia. Công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý, HLV, trọng tài thể thao được chú trọng đã hình thành một đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên môn tốt, trực tiếp tham gia huấn luyện tại các cơ sở thể thao chuyên nghiệp.

Thể thao Việt Nam liên tục xếp hạng trong 3 quốc gia dẫn đầu tại các kỳ SEA Games, một số VĐV ở các môn thể thao Olympic đạt trình độ hàng đầu châu Á và thế giới. Hệ thống thi đấu thể thao thành tích cao ngày càng được hoàn thiện và ổn định. Ngoài ra, các Liên đoàn, Hiệp hội Thể thao quốc gia, các doanh nghiệp đã phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao trong nước và quốc tế khác. Các hoạt động tổ chức thi đấu thể thao thành tích cao được quản lý tương đối chặt chẽ, tuân thủ quy định của pháp luật...

 Cần bổ sung chính sách để bảo vệ VĐV

Tuy nhiên, nhiều quy định trong Luật TDTT về TTTTC còn chưa được cơ quan quản lý nhà nước về TDTT hướng dẫn tạo nên sự lúng túng trong tổ chức các hoạt động như: Các chính sách tạo điều kiện học nghề và giải quyết việc làm cho VĐV không còn khả năng thi đấu (Điều 32); về giải thi đấu TTTTC (Điều 37); thẩm quyền tổ chức giải TTTTC (Điều 38); thẩm quyền ban hành điều lệ giải TTTTC (Điều 39); thủ tục đăng cai tổ chức giải TTTTC (Điều 40); công nhận thành tích thi đấu TTTTC (Điều 41); đẳng cấp VĐV, HLV, trọng tài thể thao (Điều 42); Tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị cho tập luyện và thi đấu TTTTC (Điều 43); Chương trình văn hoá phổ thông giảng dạy trong trường năng khiếu thể thao (Điều 61)...

Nếu những vấn đề này được giải quyết triệt để thì thể thao Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn và bền vững hơn.

Về chế độ dinh dưỡng cho VĐV, HLV TTTTC theo Thông tư liên tịch số 149/2011/TTLT/BTC-BVHTTDL hướng dẫn thực hiện chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với TTTTC tuy đã được điều chỉnh lên là 200.000/người/ngày (năm 2008 mới chỉ 120.000đ/người/ngày) nhưng do trượt giá nên vẫn không đảm bảo và hiện nay vẫn chưa có chế độ dinh dưỡng đặc thù theo từng môn thể thao; đối với VĐV, HLV không hưởng lương thì chế độ này không được hưởng trong những ngày lễ, Tết. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 82/2013/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 về một số chính sách đặc thù đối với HLV, VĐV thể thao xuất sắc, trong đó có nâng các chế độ: dinh dưỡng, tiền công, chăm sóc y tế, trang thiết bị tập luyện, thi đấu, nhưng Quyết định này mới chỉ quy định cho VĐV được triệu tập tập huấn chuẩn bị tham dự và có khả năng giành huy chương tại ASIAD, Olympic và Paralympic với khoảng 50 VĐV được điều chỉnh, còn số đông VĐV, HLV khác vẫn thực hiện theo chế độ cũ.

Về chế độ thực phẩm chức năng nhằm tăng sức bền và khả năng thi đấu của VĐV hiện nay ở địa phương (theo Điều 3 TTLT 149/2011/TTLT/BTC-BVHTTDL) chưa được thực hiện do chưa cân đối được ngân sách và vì chưa có quy định cụ thể.

Về chế độ tiền công, tiền lương đối với VĐV, HLV thể thao, theo TTLT số 149/2012/TTLT-BTC-BLĐTBXH-BVHTTDL còn thấp, không còn phù hợp nhưng chậm được sửa đổi. HLV, VĐV đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước sẽ không được nhận tiền công huấn luyện theo ngày mà chỉ được hưởng phần chênh lệch so với lương nếu có. Đối với trường hợp lương của HLV, VĐV cao hơn mức tiền công theo ngày thì vẫn chưa được quy định. Với chế độ tiền công hiện tại khó thuê được các chuyên gia giỏi về làm HLV cũng như thu hút VĐV tiềm năng. Mức thưởng cho thành tích thể thao quy định tại QĐ 32/2011/QĐ-TTg tăng so với trước, tuy nhiên, Quyết định này cũng quy định đối với các giải thi đấu quốc gia, nguồn kinh phí để thưởng do Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh, thành phố chi trả; do chưa có văn bản quy định cụ thể nên mỗi Bộ, ngành, địa phương vận dụng theo một mức thưởng khác nhau, có nơi mức thưởng còn thấp hơn mức Trung ương quy định.

Về độ tuổi lao động: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật Lao động 2012: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên; Khoản 1 Điều 164 về sử dụng lao động dưới 15 tuổi quy định người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - TBXH quy định. Tuy nhiên, có những môn thể thao đòi hỏi VĐV phải tập luyện và thi đấu từ rất sớm và tuổi nghề cũng rất ngắn, như môn thể dục dụng cụ, VĐV bắt đầu tham gia luyện tập từ 6 - 7 tuổi, chỉ đến 15 tuổi là không thể phát triển thành tích được nữa. Quy định như vậy đã bỏ sót đối tượng VĐV tham gia luyện tập thể thao thành tích cao dưới 13 tuổi.

Về chế độ chăm sóc sức khỏe, chữa trị chấn thương đối với các VĐV chưa thực sự được thực hiện trong điều kiện tốt nhất dẫn đến việc phục hồi chấn thương chậm, thậm chí khó thi đấu trở lại. Sự phối kết hợp giữa bệnh viện thể thao và các trung tâm huấn luyện thể thao còn chưa chặt chẽ. Hiện nay, ngành đang thiếu bác sĩ, đặc biệt là những người được đào tạo về y học thể thao. Hoạt động của Bệnh viện Thể thao Việt Nam, các trung tâm y học và đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế ngành thể thao còn chưa đáp ứng được yêu cầu do thiếu nhân lực chất lượng cao, chính sách thu hút còn nhiều bất cập. Việc thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho VĐV, HLV thể thao không hưởng lương từ ngân sách chưa được thực hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố và một số Trung tâm huấn luyện thể thao Quốc gia. Trung tâm Huấn luyện TTQG Đà Nẵng phải dùng một phần kinh phí quản lý của Trung tâm để chi trả; Trung tâm Huấn luyện TTQG Hà Nội, Cần Thơ chưa mua BHYT cho VĐV vì chưa có kinh phí mặc dù khoản 2 Điều 32, Luật TDTT đã quy định.

(Kỳ 2: Giải pháp - Bổ sung và sửa đổi Luật cho phù hợp).

Bình luận (0)
Gửi