rss
Thứ tư, 28/06/2017 | 00:31 GMT+7

Sửa đổi, bổ sung luật TDTT nhằm phát triển sự nghiệp TDTT

Cập nhật 00:00 ngày 18/04/2015
(Pháp luật TDTT) - Luật TDTT được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006. Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, có thể khẳng định rằng Luật TDTT đã tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của TDTT đối với đời sống xã hội, với sức khỏe của nhân dân, góp phần quan trọng vào tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế. Các quy định của Luật TDTT đã từng bước đi vào cuộc sống làm thay đổi căn bản diện mạo của hoạt động TDTT đất nước, điều này được thể hiện ở một số mặt chính như sau:

TDTT cho mọi người

Các quy định trong Luật TDTT về chính sách phát triển TDTT quần chúng, giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, TDTT trong lực lượng vũ trang đã tạo hành lang pháp lý quan trọng giúp hoạt động TDTT cho mọi người phát triển. Phong trào tập luyện TDTT của quần chúng nhân dân đã có bước phát triển mới cả về bề rộng và chiều sâu. Hiện nay, cả nước trên 28% dân số thường xuyên tập luyện TDTT (chưa tính học sinh, sinh viên); có trên 21% tổng số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao; khoảng 40.000 CLB TDTT quần chúng hoạt động thường xuyên, trong đó, có khoảng 5.000 CLB võ thuật, 3000 CLB sức khỏe ngoài trời. Hầu hết các xã, phường, thị trấn có Hội đồng TDTT, CLB hoặc nhà văn hóa thể thao, khoảng 30% xã, phường, thị trấn có sân chơi, bãi tập. Hoạt động TDTT người khuyết tật, người cao tuổi, thể thao dân tộc, TDTT phòng bệnh, chữa bệnh… không ngừng được nâng cao.

Cả nước có trên 90% số trường học triển khai áp dụng chương trình giáo dục thể chất chính khóa và một số trường đã có hoạt động ngoại khóa thường xuyên. Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc và Đại hội thể thao sinh viên toàn quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần cùng với hàng chục giải thể thao của học sinh, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia, góp phần tạo nguồn tài năng thể thao trẻ cho thể thao đỉnh cao quốc gia. Công tác huấn luyện thể lực trong quân đội là một trong 4 nội dung huấn luyện quân sự bắt buộc đối với từng quân nhân; tỷ lệ trung bình về số quân nhân tham gia tập luyện thường xuyên so với quân số biên chế tại các đơn vị đạt trên 68%. Lực lượng công an chú trọng phát triển các môn thể thao võ thuật, bắn súng, bơi, chạy vũ trang nhằm phục vụ trực tiếp cho tác nghiệp chuyên môn, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ chiến sĩ...

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp

Luật TDTT có những quy định rất cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp, chính sách phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp được khẳng định, quyền và nghĩa vụ của VĐV, HLV, trọng tài thể thao được ghi nhận, hệ thống giải thi đấu thể thao được quy định rất cụ thể về quy mô, thẩm quyền, trình tự thủ tục thực hiện. Khái niệm thể thao chuyên nghiệp lần đầu tiên được làm rõ trong văn bản Luật, các vấn đề cơ bản về thể thao chuyên nghiệp như VĐV, HLV chuyên nghiệp, chuyển nhượng VĐV chuyên nghiệp, CLB thể thao chuyên nghiệp, điều kiện kinh doanh thể thao chuyên nghiệp, quyền sở hữu đối với giải thi đấu chuyên nghiệp được Luật hóa.

Thành tích thi đấu thể thao của nước ta liên tục được xếp hạng trong top 3 các kỳ SEA Games, trong top 20 của Đại hội Thể thao châu Á;

Về điều kiện và nguồn lực phát triển TDTT

Luật TDTT quy định 1 chương về cơ sở thể thao, 1 chương về Ủy ban Olympic và các Liên đoàn thể thao và đặc biệt là có 1 chương riêng về nguồn lực phát triển TDTT gồm nguồn tài chính, đất đai, nhân lực. Đây là những quy định quan trọng tạo điều kiện và dành nguồn lực cho TDTT phát triển. Nhờ đó, hệ thống các tổ chức xã hội về TDTT được hình thành. Hiện nay, nước ta có khoảng 20.000 VĐV thể thao thành tích cao, trong đó có khoảng 3.500 VĐV trẻ (chiếm khoảng 40%), kinh phí đào tạo chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm. Nhà nước đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình phục vụ nhu cầu luyện tập, giải trí thể thao của nhân dân, đến nay các công trình TDTT đã có sự tăng đáng kể cả về lượng và chất, hiện có khoản 600 công trình đủ tiêu chuẩn thi đấu cấp quốc gia và quốc tế. Ngoài ra, có khoảng 28.000 công trình thể thao công cộng phục vụ nhu cầu tập luyện TDTT của nhân dân do Nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội đầu tư xây dựng; khoảng 60 - 70% xã, phường, thị trấn đã dành đất cho TDTT, trong đó khoảng 30% xã, phường có sân bóng, hồ bơi, nhà tập.

Công tác xã hội hóa hoạt động thể thao thành tích cao đã thu hút thêm nguồn lực xã hội cho phát triển thể thao thành tích cao và phù hợp với xu thế phát triển thể thao thành tích cao hiện đại trên thế giới.

Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thực hiện Luật TDTT đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

Thứ nhất, nhiều điều khoản của Luật có nội dung khá tiến bộ xong nội dung còn chung chung, khẩu hiệu, thiếu tính quy phạm dẫn đến việc khó thi hành trong thực tế, không rõ nghĩa vụ thuộc về chủ thể nào, làm việc cụ thể gì, như các điều khoản về: chính sách về phát triển cơ sở vật chất đối với hoạt động TDTT cho mọi người, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với việc bảo đảm hoạt động TDTT cho người lao động, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, nhà trường đối với TDTT trường học; quy định về thành lập quỹ phát triển thể thao…

Thứ hai, một số quy định của Luật đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay như các điều khoản về: chỉ tiêu đánh giá phát triển phong trào TDTT đã lỗi thời, lạc hậu, không phản ánh hết được sự phát triển TDTT ở một đơn vị, địa phương; quy định về quản lý doanh nghiệp thể thao, hộ kinh doanh thể thao không phù hợp với Luật doanh nghiệp mới, phải chuyển đổi từ quản lý đối tượng sang quản lý ngành nghề kinh doanh; quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cơ sở vật chất, trang thiết bị thể thao không phù hợp với Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành; nhiệm vụ, quyền hạn của các Liên đoàn thể thao quốc gia đã có nhiều thay đổi phù hợp với xu thế phát triển của thể thao chuyên nghiệp trong khi các quy định của Luật không đáp ứng được…

Thứ ba, một số nội dung mà thực tiễn đòi hỏi phải có sự điều chỉnh trong khi Luật chưa có quy định như: Luật chưa có sự phân định rõ ràng về khái niệm giữa thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp từ đó chưa xác định rõ chính sách đối với từng loại hình này, gây lúng túng trong quá trình quản lý, hoạch định chiến lược phát triển, trong khi thực tiễn chỉ ra rằng thể thao thành tích cao là nhằm xếp hạng thể thao của từng địa phương, từng quốc gia và do Nhà nước bảo đảm là chính còn thể thao chuyên nghiệp là hướng tới tổ chức sự kiện, giải đấu nhằm thu hút khán giả vì lợi nhuận, tiền thưởng và do cơ chế thị trường điều chỉnh; Luật chưa có chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia đóng góp cho TDTT như các chính sách ưu đãi khi đầu tư vào TDTT, chính sách miễn, giảm thuế khi tài trợ, ủng hộ cho TDTT, chính sách tôn vinh tổ chức, doanh nghiệp có nhiều đóng góp cho TDTT…; hiện nay nhiều ngành, lĩnh vực có cơ chế thành lập Ủy ban quốc gia để phối hợp liên ngành trong chỉ đạo, phối hợp tổ chức các hoạt động như: Ủy ban quốc gia về thanh niên, người cao tuổi, về công nghệ thông tin, chống biến đổi khí hậu, về bình đẳng giới, về đổi mới giáo dục… trong khi TDTT là lĩnh vực đặc biệt cần sự phối hợp liên ngành xong Luật chưa có quy định về mô hình này cũng như cơ chế phối hợp tổ chức thực hiện.

Hiện nay, Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TDTT đã tích cực triển khai công tác xây dựng, chuẩn bị nội dung dự thảo Luật trên cơ sở một số quan điểm chỉ đạo cơ bản sau đây:

- Thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách mới của Đảng về TDTT theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 1/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 và cụ thể hóa nội dung Hiến pháp 2013.

- Sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan nhằm khắc phục các vướng mắc bất cập trong quá trình hơn 10 năm triển khai thực hiện Luật TDTT hiện hành.

- Bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như các Điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Theo thống kế, Luật TDTT có liên quan đến khoảng 20 văn bản Luật khác, điều này cần có rà soát, đánh giá để bảo đảm tính đồng bộ, tương thích...

Lê Thanh Liêm (Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ VHTTDL)

Bình luận (0)
Gửi