rss
Thứ năm, 13/12/2018 | 01:05 GMT+7

Sửa đổi bổ sung Luật Thể dục thể thao: Tác động lớn đến lĩnh vực TDTT quần chúng

Cập nhật 00:00 ngày 12/06/2018
(Pháp luật TDTT) - Kể từ kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI ngày 29/11/2006, Luật TDTT đã được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2007. Sau 10 năm thực hiện, Luật TDTT đã thực sự đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả tích cực của nó. Đối với lĩnh vực TDTT quần chúng, thực sự đã có những chuyển biến tích cực trên các mặt, đặc biệt là làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của TDTT nhằm nâng cao sức khỏe cho mọi người… Tuy nhiên, sau những kết quả đó, đến nay, Luật TDTT cũng bộc lộ một số bất cập. Lĩnh vực TDTT quần chúng cũng bao hàm trong nó những hạn chế cần đổi mới cho phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, để hòa nhập với thể thao quốc tế...
 
Hình ảnh: Sửa đổi bổ sung Luật Thể dục thể thao: Tác động lớn đến lĩnh vực TDTT quần chúng số 1
 
 
Từ những chuyển biến tích cực... 
 
Sự ra đời của Luật TDTT qua 10 năm thực hiện đã tác động tích cực đến sự phát triển của sự nghiệp TDTT, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TDTT, tạo ra được cơ chế, chính sách phù hợp huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào phát triển TDTT nhằm nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực toàn dân.
 
Đối với lĩnh vực TDTT quần chúng, chương II, Mục I (từ Điều 11 đến Điều 19) Luật TDTT quy định chính sách phát triển TDTT quần chúng; phong trào TDTT quần chúng; thi đấu thể thao quần chúng; TDTT cho người khuyết tật; TDTT cho người cao tuổi; thể dục phòng bệnh, chữa bệnh; các môn thể thao dân tộc; thể thao giải trí và thể thao quốc phòng. Đây chính là cơ sở pháp lý để chỉ đạo, điều hành, tổ chức và thúc đẩy hoạt động TDTT quần chúng phát triển. Đến nay, hầu hết các xã, phường, thị trấn có Hội đồng TDTT, CLB  hoặc NVH  thể thao. Có khoảng 60-70% xã, phường, thị trấn đã dành đất cho TDTT, trong đó có khoảng 30% xã, phường có sân tập, nhà tập.
 
Thông qua các cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” vận động mỗi người tự chọn một môn thể thao phù hợp, các chỉ tiêu đánh giá phong trào TDTT cho mọi người tăng đều hàng năm. Đến nay, cả nước có trên 29,53% dân số thường xuyên tập luyện TDTT; 21,2% số gia đình có 50% người tập luyện TDTT thường xuyên và khoảng 51.000 CLB TDTT hoạt động.  Hoạt động TDTT trong thanh thiếu niên tiếp tục được đẩy mạnh, ngành TDTT đã phối hợp với Trung ương đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ký chương trình phối hợp đẩy mạnh hoạt động TDTT trong thanh, thiếu niên, phát động phong trào Thanh niên “khoẻ để lập nghiệp và giữ nước”, tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, thể thao tại các Nhà thiếu nhi, Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi, Trung tâm Văn hoá-Thể thao các tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã… thu hút đông đảo thanh, thiếu niên, nhi đồng tham gia. Hoạt động TDTT người cao tuổi được phát triển rộng khắp cả nước, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, thị trấn. Việc tập luyện TDTT đã trở thành nhu cầu thiết yếu đối với người cao tuổi, góp phần nâng cao sức khoẻ, tuổi thọ, từng bước góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, phong trào tập luyện đã thu hút từ 15-20% người cao tuổi ở nông thôn và trên 60% người cao tuổi ở thành phố, thị xã tham gia tập luyện TDTT thường xuyên. Đối với thể thao người khuyết tật đã được quan tâm phát triển, góp phần động viên cổ vũ, tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia tập luyện TDTT hoà nhập với cộng đồng, hiện có 45/63 tỉnh, thành phố duy trì thường xuyên hoạt động TDTT cho người khuyết tật. Đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam tham dự và đạt nhiều thành tích xuất sắc tại các giải Vô địch, các Đại hội thể thao người khuyết tật Đông Nam Á, Châu Á và Thế giới. TDTT trong đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều tiến bộ, các môn thể thao dân tộc, các trò chơi dân gian được quan tâm bảo tồn và phát triển. Một số môn thể thao dân tộc như: Vovinam, đá cầu, võ cổ truyền... bước đầu đã được phổ biến ra quốc tế, bên cạnh đó, nhiều địa phương đã quan tâm phát triển một số môn thể thao giải trí mới như leo núi thể thao, vũ đạo giải trí, mô tô nước, dù lượn, diều bay, ô tô địa hình, câu cá, E-sport… gắn với việc kinh doanh dịch vụ tại các cơ sở du lịch.
 
Nội dung giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường được quy định tại Chương II, Mục II, từ điều 20 đến điều 26 bao gồm các quy định về: Khái niệm giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường; trách nhiệm của nhà nước, nhà trường, đoàn thanh niên; các tổ chức xã hội nghề nghiệp về thể thao trong giáo dục thể chất và thể thao nhà trường; quyền và nghĩa vụ của giáo viên, giảng viên TDTT và của người học; thi đấu thể thao trong nhà trường. Do vậy, công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hiện nay cả nước có 95% số trường học thực hiện tốt chương trình giáo dục thể chất chính khoá có nền nếp theo quy định; trên 71% trường học tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá thường xuyên. Hàng năm, ngành giáo dục và đào tạo đã tổ chức nhiều giải thể thao cho học sinh, sinh viên nhằm đánh giá công tác giáo dục thể chất và thể thao trong các nhà trường. Theo chu kỳ, các hoạt động lớn đã được tổ chức như Hội khoẻ phù đổng toàn quốc, Đại hội thể thao sinh viên toàn quốc. Đã cử nhiều đoàn tham dự các giải và đại hội thể thao học sinh, sinh viên quốc tế.
 
Về TDTT trong lực lượng vũ trang được quy định ở Mục III, Chương II từ Điều 27 đến Điều 30 quy định: Trách nhiệm của các đơn vị trong lực lượng vũ trang, quyền và nghĩa vụ của cán bộ chiến sỹ, qua đó TDTT trong lực lượng vũ trang luôn được quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Huấn luyện thể lực trong quân đội là một trong bốn nội dung huấn luyện quân sự bắt buộc đối với từng quân nhân. Số cán bộ, chiến sỹ tham gia tập luyện TDTT thường xuyên chiếm tỷ lệ 68,6% quân số. Định kỳ hàng năm và 5 năm, Bộ Công An, Bộ Quốc Phòng đều tổ chức các Đại hội, các giải thể thao trong toàn lực lượng nhằm đánh giá phong trào rèn luyện thân thể, qua đó thu hút hàng vạn lượt cán bộ chiến sỹ tham gia, góp phần đảm bảo thể lực cho cán bộ chiến sỹ luôn sẵn sàng phục vụ nhân dân và bảo vệ Tổ quốc.
 
Nhìn chung sau khi Luật TDTT ra đời, các chủ trương, chính sách lớn như Ngân sách nhà nước đầu tư cho TDTT, đất đai dành cho TDTT, khuyến khích xã hội hoá TDTT, ưu tiên phát triển TDTT đối với vùng, miền có điều kiện khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. Đã được triển khai trong thực tiễn và phát huy hiệu quả bước đầu. Ngân sách nhà nước cho hoạt động TDTT hàng năm được tăng thêm, cơ sở vật chất, sân bãi tiếp tục được đầu tư, nâng cấp, các điểm tập luyện, vui chơi với các trang thiết bị thể thao đơn giản tại các khu dân cư, công viên, bãi tập được hình thành ở nhiều xã, phường, thị trấn đã tạo nên mạng lưới hạ tầng TDTT đáp ứng nhu cầu tập luyện hàng ngày của nhân dân. Công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực hướng dẫn viên, cộng tác viên TDTT cơ sở được chú trọng. TDTT ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn được các địa phương quan tâm, thể thao dân tộc được bảo tồn và phát triển. Công tác xã hội hoá các hoạt động thể thao bước đầu đạt được những kết quả tích cực, thu hút thêm nguồn lực của xã hội cho phát triển TDTT, nhờ đó các hoạt động TDTT quần chúng phát triển rộng khắp và tự giác trong nhân dân ở các vùng, miền trên cả nước.
 
Hình ảnh: Sửa đổi bổ sung Luật Thể dục thể thao: Tác động lớn đến lĩnh vực TDTT quần chúng số 2
 
 
Tới những bất cập hiện hữu
 
Sau 10 năm thực hiện, Luật TDTT về lĩnh vực thể thao quần chúng đã có một số quy định không còn phù hợp hay bộc lộ những vướng mắc, bất cập cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ví dụ: chưa tập trung rõ nét cho lĩnh vực TDTT quần chúng,  nhiều nơi vẫn xem TDTT là hoạt động giải trí, đầu tư cũng được, không đầu tư cũng được, tất cả phụ thuộc vào sự quan tâm và nhận thức của lãnh đạo địa phương, kinh phí dành cho TDTT còn ít. Việc lập quy hoạch, kế hoạch dành đất cho TDTT  đã và đang được thực hiện ở các cấp, các ngành nhưng ở nhiều nơi còn hết sức thiếu thốn; một số trường hợp bị thay đổi quy hoạch hay chuyển đổi mục đích sử dụng; việc quy hoạch đất dành cho hoạt động TDTT ở các khu công nghiệp, khu chế xuất chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi nhu cầu tập luyện TDTT để nâng cao sức khoẻ của nhân dân ngày càng lớn, thì điều kiện về sân bãi, trang thiết bị phục vụ tập luyện TDTT ở cơ sở, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo còn nhiều khó khăn. Mặc dù các công trình TDTT được nhà nước đầu tư xây dựng để phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu thể thao của nhân dân có tăng, nhưng tỷ lệ số lượng các công trình thể thao của nước ta trên tổng dân số vẫn còn thấp (ở ta 1 vạn dân sử dụng 3,33 công trình TDTT trong khi ở Châu Á tỷ lệ này là 6,58). Tiêu chí đánh giá phong trào TDTT cho mọi người theo Điều 12 của Luật gồm 2 chỉ tiêu là số người tập luyện thể thao thường xuyên và gia đình thể thao chưa bao quát và phản ánh hết sự phát triển TDTT quần chúng ở các địa phương, đơn vị.  Việc quản lý hoạt động thi đấu thể thao quần chúng ngày càng phát triển đa dạng về quy mô, loại hình hoạt động, đối tượng tham dự… trong khi đó việc phân loại các giải thi đấu thể thao quần chúng và thẩm quyền cho phép tổ chức các giải này còn gây lúng túng cho các đơn vị tổ chức và các cơ quan quản lý trong việc đăng cai cấp phép tổ chức.
 
Công tác giáo dục thể chất trong trường học chưa được quan tâm đúng mức. Hệ thống các cơ sở, sân bãi phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trường học còn thiếu thốn, lạc hậu, không chỉ trong các trường phổ thông mà cả trong khối các trường đại học và chuyên nghiệp. Nội dung môn học thể dục trong chương trình chính khoá chậm đổi mới, chưa thực sự tạo hứng thú cho học sinh, sinh viên, thiếu quy định cụ thể về chuẩn giáo viên, giảng viên TDTT, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị TDTT trong nhà trường. Trách nhiệm của nhà trường trong việc đảm bảo các hoạt động thể chất và tổ chức thi đấu thể thao trong các cấp học chưa được quy định cụ thể.
 
Rồi vấn đề tai nạn đuối nước đã và đang là sự nhức nhối của toàn xã hội và là trách nhiệm của cả cộng đồng, do vậy phổ cập bơi cho trẻ em Việt Nam trong độ tuổi tiểu học cũng cần quy định trong Luật. Trách nhiệm phối hợp của các cơ sở thể thao công lập trong việc sử dụng các công trình thể thao phục vụ giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường.
 
Tóm lại, đối với phong trào thể thao cho mọi người sau 10 năm thực hiện Luật thể dục, thể thao đã cho thấy những hạn chế bất cập, để thúc đẩy phong trào TDTT cho mọi người phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới thì việc sửa đổi, bổ sung Luật thể dục, thể thao là hết sức cần thiết.
 
Luật sửa đổi, bổ sung sẽ tạo động lực mới cho sự phát triển!
 
Nếu Luật TDTT sửa đổi và bổ sung được Quốc hội thông qua và đưa vào thực tiễn thì chắc chắn sẽ có sự chuyển biến hết sức tích cực đến phong trào TDTT cho mọi người. Việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TDTT mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn, sẽ là điều kiện thuận lợi để lãnh đạo các cấp, các ngành và toàn thể xã hội quan tâm nhiều hơn, nhận thức sâu sắc hơn tới vai trò, tầm quan trọng, tác dụng, hiệu quả của TDTT trong đời sống. Từ đó giúp tạo ra được cơ chế, chính sách phù hợp, huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào phát triển TDTT, nâng cao sức khỏe.
 
Cụ thể như: Khoản 2, Điều 12 Luật thể dục, thể thao hiện hành quy định “Phong trào TDTT quần chúng được đánh giá bằng chỉ tiêu số người tập luyện thường xuyên và gia đình thể thao”giai đoạn hiện nay không còn phù hợp vì trong thực tế đã nảy sinh bất cập khiến việc đánh giá phong trào TDTT cho mọi người thiếu chính xác, không phản ánh được đầy đủ sự phát triển của phong trào cũng như những mặt hạn chế của nó tại nhiều địa phương. Ở một số đơn vị, địa phương, ý thức “chạy theo thành tích”  làm nảy sinh những con “số ảo”, những bản báo cáo không sát thực tế và không đúng thực chất phong trào tập luyện TDTT ở cơ sở, ảnh hưởng không nhỏ đến việc đề ra chính sách về TDTT ở từng địa phương.
 
Hơn nữa, hiện nay tổng số công chức văn hoá-xã hội cấp xã trên toàn quốc là 1.162 người, mỗi xã chỉ có 1 công chức văn hoá-xã hội và phải thực thi nhiều việc khác nhau như: Tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của Thông tư 06/2012/TT-BNV nên cũng có nhiều khó khăn. Bởi vậy nếu việc sửa đổi, bổ sung được thông qua thêm một số tiêu chí nữa như: Số cộng tác viên TDTT; số Câu lạc bộ TDTT; số công trình TDTT; số giải thể thao tổ chức hàng năm là những tiêu chí đánh giá mang tính chất định lượng sẽ giúp việc đánh giá một cách chuẩn xác và toàn diện hơn về điều kiện tập luyện TDTT của người dân cũng như sự quan tâm của chính quyền và phong trào TDTT của một địa phương, nó sẽ tác động lớn đến việc điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách phát triển, đầu tư cho phong trào TDTT tại địa phương.
 
Hình ảnh: Sửa đổi bổ sung Luật Thể dục thể thao: Tác động lớn đến lĩnh vực TDTT quần chúng số 3
 
 
Đối với TDTT trường học thì thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của Ngành giáo dục đào tạo, trách nhiệm của nhà trường trong việc đảm bảo các hoạt động thể chất và tổ chức thi đấu thể thao trong các cấp học. Nên ở Điều 22 trách nhiệm của nhà trường, việc cụ thể hoá khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các môn thể thao đặc biệt là môn bơi khi tình trạng đuối nước liên tục xảy ra, rồi môn võ cổ truyền, các môn thể thao dân tộc; thành lập câu lạc bộ thể thao của học sinh, sinh viên là hết sức cần thiết. Ở Điều 25 thi đấu thể thao trong nhà trường, nhà trường cần có trách nhiệm tổ chức thi đấu thể thao ít nhất một lần trong mỗi năm học sẽ có ý nghĩa thúc đẩy các hoạt động TDTT trong học sinh, sinh viên đặc biệt là các hoạt động TDTT ngoại khóa trong các trường học phát triển mạnh mẽ, dần hướng tới chương trình môn học giáo dục thể chất mang tính mở, tạo điều kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường. Đồng thời tạo điều kiện để các trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với yêu cầu giáo dục, điều kiện thực tế và đặc điểm cụ thể của học sinh từng vùng miền. Đối với công trình công cộng phục vụ cho nhu cầu tập luyện TDTT của nhân dân, đã có các văn bản như Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng 2030; các thông tư của Bộ trưởng về mẫu tổ chức, hoạt động, tiêu chí của Trung tâm văn hóa-thể thao xã, phường, thị trấn; mẫu tổ chức, hoạt động, tiêu chí của Nhà văn hóa, Khu thể thao thôn; tổ chức và hoạt động của CLB thể thao cơ sở. Đặc biệt, ngày 9/2/2017 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 01/2017/TT-BTNMT ban hành định mức đất xây dựng cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục và đào tạo, cơ sở thể dục thể thao để áp dụng đối với việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thẩm định nhu cầu sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng mới hoặc mở rộng quy mô sử dụng đất các công trình.
 
Theo đó, định mức sử dụng đất xây dựng cơ sở TDTT như sau: Đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao là đất xây dựng các công trình thể dục thể thao, bao gồm: Sân tập thể thao đơn giản; sân vận động; cơ sở thể dục thể thao; nhà thi đấu và nhà tập luyện đa năng; bể bơi; khu liên hợp thể thao hoặc trung tâm thể thao cấp tỉnh, cấp vùng (Định mức sử dụng đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao theo công trình là 1.000m2/công trình) nhưng do Luật còn quy định một cách chung chung, khẩu hiệu, thiếu tính quy phạm dẫn đến việc chưa được quan tâm đúng mức, do đó quy định rõ trong luật là cần thiết về đất đai dành cho TDTT nhất là đất dành cho thể thao tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong quy hoạch xây dựng trường học, đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, doanh trại đơn vị vũ trang nhân dân phải dành quỹ đất để xây dựng công trình thể thao và nếu trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất dành cho công trình TDTT, cơ quan có thẩm quyền phải bố trí quỹ đất tương ứng để thay thế. Bên cạnh đó nếu việc quy định các tổ chức, cá nhân được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai trong quá trình thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng, khai thác các công trình thể thao quần chúng sẽ tạo điều kiện để thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực TDTT. Hoặc chính sách miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ cho các đối tượng trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng …. khi đến xem thi đấu thể thao hoặc sử dụng dịch vụ tập luyện TDTT tại các cơ sở công lập sẽ tạo điều kiện để thu hút các đối tượng này tham gia vào các hoạt động TDTT nhiều hơn.
 
Kết
 
Có thể nói, Việc Luật thể dục, thể thao được sửa đổi, bổ sung sẽ là hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển của TDTT nói chung và phát triển phong trào TDTT quần chúng rộng hơn, sâu hơn, xác định đúng vai trò, vị trí của công tác TDTT trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực tầm vóc của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác xã hội hóa, phát huy vai trò của nhà nước, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội chăm lo sự nghiệp phát triển TDTT, phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội đầu tư cho lĩnh vực TDTT quần chúng.
 
TS. Nguyễn Ngọc Anh – Vụ trưởng Vụ TDTT quần chúng (Tổng cục TDTT)
Bình luận (0)
Gửi