rss
Thứ năm, 17/08/2017 | 18:35 GMT+7

Vị trí của môn học giáo dục thể chất trong chương trình giáo dục phổ thông đổi mới

Cập nhật 14:38 ngày 24/04/2017
(Lý luận & Thực tiễn) - Giáo dục thể chất có tầm quan trọng đặc biệt góp phần phát triển toàn diện cho học sinh. Vì vậy, cần làm rõ vị trí của nó trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

Hình ảnh: Vị trí của môn học giáo dục thể chất trong chương trình giáo dục phổ thông đổi mới số 1

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được chuẩn bị và triển khai từ rất sớm, ngay sau Đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tiếp theo là Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Trong đó, giáo dục thể chất là một trong trong 8 năng lực chủ yếu, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần phát triển toàn diện cho học sinh. Vì vậy, cần làm rõ vị trí của nó trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

Môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục thể chất

Lĩnh vực giáo dục thể chất nhằm giáo dục học sinh có cuộc sống khoẻ mạnh cả về thể lực và tinh thần, hình thành văn hoá thể chất thông qua việc trang bị cho học sinh những kiến thức về sức khoẻ và quản lý sức khoẻ, biết thường xuyên tập luyện phù hợp với bản thân, biết cách thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người.

Giáo dục thể chất được thực hiện ở một số môn học như: thể dục, sinh học, công nghệ, các hoạt động thể thao, trải nghiệm sáng tạo,... trong đó môn học cốt lõi là thể dục - thể thao (thể dục là nội dung học từ lớp 1 đến lớp 9; thể thao là hoạt động tự chọn trong môn học (TC3) của học sinh trong nhà trường từ lớp 1 đến lớp 12); Thể dục và thể thao nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng phát triển thể lực, sức khoẻ bằng những hoạt động thể chất đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình, đội ngũ; các bài tập thể dục và bài tập phát triển tố chất thể lực; các môn thể thao: bơi lặn, võ, vật và các hoạt động thể thao cổ truyền, thể dục nghệ thuật, khiêu vũ thể thao...; phương pháp phòng chống chấn thương trong hoạt động TDTT.

- Giai đoạn giáo dục cơ bản: Cấp tiểu học nhằm hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ, thông qua luyện tập TDTT để phát triển các tố chất vận động, ưu tiên phát triển sự khéo léo dưới hình thức các trò chơi vận động, vui chơi tập thể... Cấp trung học cơ sở nhằm trang bị những hiểu biết về cách thức tập luyện, giáo dục ý thức tự giác, tích cực tự luyện tập, phát triển các tố chất thể lực, ưu tiên phát triển sức nhanh thông qua các hoạt động TDTT như: nhảy cao, nhảy xa, đá cầu, cầu lông, bóng đá, bóng chuyền...

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Phát triển kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh, tham gia các hoạt động thể thao trong trường học và cộng đồng thông qua các hoạt động giao lưu, thi đấu.

Hình thức tổ chức và phương pháp dạy học chủ yếu là tổ chức các hoạt động vận động, tập luyện và thi đấu TDTT cho học sinh.

Kết hợp đánh giá năng lực theo yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng, tố chất thể lực phù hợp (cấp học, lứa tuổi và giới tính), đánh giá thái độ hoạt động TDTT trong và ngoài nhà trường của học sinh.

Các năng lực được hình thành ở học sinh thông qua môn học giáo dục thể chất:

Một là, Sống thích ứng và hài hòa với môi trường: Nhận ra một số yếu tố chủ yếu (của môi trường sống, thời tiết, thức ăn) có lợi, có hại cho sức khoẻ. Tuân thủ những chỉ dẫn của người lớn về vệ sinh cá nhân, ăn, mặc, sinh hoạt, học tập có lợi cho sức khoẻ. Nêu được cơ sở khoa học của chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, các biện pháp giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ; tự vệ sinh cá nhân đúng cách. Lựa chọn cách ăn, mặc, hoạt động phù hợp với thời tiết và đặc điểm phát triển của cơ thể; thực hành giữ gìn vệ sinh môi trường sống xanh, sạch, không ô nhiễm. Nêu được cơ sở khoa học của các biện pháp bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, giữ cân bằng sinh thái; điều chỉnh chế độ học tập và sinh hoạt phù hợp với thể trạng của bản thân; thực hành các hoạt động cải thiện môi  trường sống; thích ứng với các hoạt động xã

Hai là, Rèn luyện sức khoẻ thể lực: Kể tên và nêu được chức năng của một số bộ phận chính của cơ thể người; diễn tả được một số biểu hiện bất thường của cơ thể; nêu và mô tả được các hoạt động vận động trong TDTT thường ngày; thực hiện được các loại hình vận động phù hợp với bản than. Thường xuyên, tự giác tập luyện TDTT; lựa chọn tham gia các hoạt động TDTT phù hợp với tăng tiến về sức khoẻ, thể lực, điều kiện sống và học tập của bản thân và cộng đồng. Đánh giá được thể trạng sức khoẻ của bản thân; đọc hiểu được các chỉ số cơ bản của sức khoẻ qua kiểm tra y tế; nhận ra các biểu hiện và phản ứng của bản thân với một số bệnh thông thường; có thói quen, biết lựa chọn các hình thức tập luyện TDTT phù hợp để cải thiện các chức năng của cơ thể.

Ba là, Nâng cao sức khoẻ tinh thần: Thực hành các hành vi ứng xử vui tươi, thân thiện; xử lý các tình huống đơn giản, cụ thể trong cuộc sống với thái độ tự trọng, tự tin, có trách nhiệm và hoà đồng với mọi người; Lạc quan và biết cách thích ứng với những điều kiện sống, học tập, lao động của bản thân; có khả tự điều chỉnh cảm xúc cá nhân, chia sẻ, cảm thông với mọi người và tham gia cổ vũ động viên người khác. Biết cải thiện các mối quan hệ để đem lại niềm vui, hạnh phúc cho bản thân và mọi người; hài hoà các hoạt động học tập, lao động, giải trí; tinh thần thoải mái; tham gia tích cực các hoạt động xã hội.

Tất cả các môn học đều phải quan tâm, đóng góp phát triển các năng lực chung của học sinh. Vai trò của môn học đối với sự phát triển từng năng lực chung được thể hiện theo 3 mức độ sau:

Mức độ A - Môn học đóng vai trò chủ yếu đối với sự phát triển năng lực tương ứng. Đối với môn học giáo dục thể chất là: Tự học, giải quyết vấn đề, thẩm mỹ.

Mức độ B - Môn học góp phần phát triển năng lực tương ứng. Đối với môn học giáo dục thể chất là: Giao tiếp, Hợp tác.

Mức độ C - Môn học tạo cơ hội phát triển năng lực tương ứng. Đối với môn học giáo dục thể chất là: Tính toán, Công nghệ thông tin.

Từ cơ sở tiếp cận, định hướng chương trình môn học giáo dục thể chất phải bám sát tiêu chí xây dựng chương trình tổng thể sau:

Thay kết luận

Từ cơ sở tiếp cận, định hướng chương trình môn học giáo dục thể chất phải bám sát tiêu chí xây dựng Chương trình tổng thể, đó là: Chương trình môn học giai đoạn giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh tri thức phổ thông nền tảng, toàn diện và thực sự cần thiết. Kết thúc giai đoạn này, học sinh có khả năng tự học, đạt được những phẩm chất và năng lực thiết yếu, nhất là các năng lực chung, thấy rõ sở trường, năng lực của mình để tự tin tham gia cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên.

Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở, thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lý số môn học.

Chú trọng tính thiết thực của các nội dung dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cùng với hoạt động tư vấn trường học để giúp học sinh học xong trung học cơ sở có thể chọn con đường học lên theo giáo dục nghề nghiệp hoặc trung học phổ thông, góp phần thực hiện yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở. Hệ thống môn học giúp cho việc hình thành, phát triển các năng lực chung của học sinh. Vai trò của mỗi môn học đối với việc hình thành, phát triển năng lực chung của học sinh.

Đặc biệt là vận dụng lồng ghép với Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2030 và Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

T.S Hoàng Công Dân

Bình luận (0)
Gửi