Kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết 08 – NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác thể dục thể thao

15/02/2022

Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020” (gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW), nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của thể dục thể thao, đặc biệt là nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thể dục, thể thao đã được nâng lên rõ rệt, từ đó tăng cường chỉ đạo, đầu tư và phát triển phong trào TDTT.    

Những kết quả tích cực thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW

Sau 10 năm, việc thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW đã làm chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân đối với công tác TDTT. Hầu hết cấp ủy đảng, chính quyền đã tổ chức quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW. Cấp ủy, chính quyền đã quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo công tác quy hoạch, tuyên truyền, xây dựng tổ chức và bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý công tác TDTT. Coi sự phát triển TDTT là một phương thức hữu hiệu để nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực, giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống, môi trường văn hóa lành mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân… Trong đó, nổi bật là một số kết quả tích cực như sau:

Một là, về đổi mới chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và thể thao trong trường học. Chương trình môn học Giáo dục thể chất về cơ bản đã bảo đảm cung cấp kiến thức, kỹ năng và duy trì thói quen tập luyện TDTT cho học sinh. Giờ học thể dục chính khóa trong nhà trường được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Tính đến cuối năm 2020, số trường học đảm bảo chương trình giáo dục thể chất chính khóa đạt khoảng gần 100%. Theo thống kê, tới nay, 100% các trường phổ thông giảng dạy môn thể dục với thời lượng 2 tiết/tuần theo khung chương trình; 100% học sinh, sinh viên thực hiện đầy đủ chương trình chính khóa. Hằng năm, các trường phổ thông triển khai tổ chức kiểm tra, đánh giá và xếp loại thể lực học sinh. Đội ngũ giáo viên giáo dục thể chất và thể thao trường học đã được tăng cường, chất lượng chuyên môn được nâng cao.

Hai là, việc phát triển TDTT quần chúng tiếp tục phát triển rộng rãi trong các đối tượng. Sự gia tăng số lượng người tập thường xuyên, đa dạng các loại hình tập luyện, các câu lạc bộ và chất lượng của các hoạt động TDTT.

TDTT trong lứa tuổi thanh thiếu nhi tiếp tục được đẩy mạnh, như phong trào “Khỏe để lập nghiệp và giữ nước”; nhiều hoạt động văn hóa, thể thao tại các Cung, Nhà Thiếu nhi, Trung tâm hoạt động Thanh thiếu nhi, Trung tâm Văn hóa – Thể thao đã thu hút đông đảo thanh thiếu niên, nhi đồng tham gia.

TDTT người cao tuổi được phát triển rộng khắp, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, thị trấn. Việc tập luyện TDTT đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với người cao tuổi, góp phần nâng cao sức khỏe, tuổi thọ, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Phong trào TDTT đã thu hút từ 15-20% người cao tuổi ở nông thôn và trên 60% người cao tuổi ở thành phố, thị xã tham gia luyện tập TDTT thường xuyên. Thể thao người khuyết tật cũng được quan tâm phát triển, góp phần động viên, cổ vũ, tạo điều kiện cho người khuyết tật.

Các địa phương đã quan tâm triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013-2020, định hướng đến 2030 và Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030 từng bước được triển khai thực hiện, góp phần tổ chức các cơ sở hoạt động văn hóa, thể thao; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, thể thao; nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, tác dụng của dinh dưỡng và tập luyện thể dục, thể thao đối với nâng cao sức khoẻ.

Ba là, có sự chuyển biến tích cực trong đào tạo tài năng thể thao, thể thao thành tích cao có nhiều chuyển biến tích cực, thành tích ở một số môn thể thao Olympic được nâng cao. Kết quả thi đấu của các môn thể thao trọng điểm, có thế mạnh đã có những khởi sắc rõ rệt. Lực lượng cán bộ, trọng tài cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, điều hành các đại hội thể thao quốc tế có quy mô khu vực, châu lục.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ đăng cai tổ chức các giải thể thao đỉnh cao, các kỳ Đại hội thể thao khu vực và châu lục được các tổ chức, liên đoàn thể thao quốc tế đánh giá cao.

Công tác phòng, chống các hành vi tiêu cực trong lĩnh vực TDTT được triển khai thường xuyên, liên tục với nhiều biện pháp quyết liệt. Công tác phòng, chống và kiểm tra Doping được triển khai kịp thời tới các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và các cơ sở đào tạo của các địa phương.

Bốn là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, trong những năm qua, công tác định hướng và triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ TDTT đã có sự biến chuyển, chất lượng nghiên cứu khoa học từng bước được nâng cao. Hệ thống tổ chức các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ TDTT tương đối đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở.

Trong những năm gần đây, công tác đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị khoa học hiện đại cho các tổ chức khoa học và công nghệ được quan tâm, chú trọng. Hoạt động thông tin khoa học, công nghệ TDTT có bước phát triển và đạt được những kết quả nhất định.

Năm là, đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát triển các tổ chức xã hội về thể dục, thể thao, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TDTT được kiện toàn, từng bước nâng cao năng lực, hoạt động hiệu quả.

Phương thức lãnh đạo, quản lý nhà nước về TDTT đã có nhiều đổi mới. Tăng cường công tác thể chế hóa, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về TDTT. Đẩy mạnh phân cấp quản lý TDTT từ Trung ương tới địa phương nhằm tạo điều kiện, phát huy nguồn lực xã hội và chuyển giao hoạt động tác nghiệp cho các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia.

Công tác đổi mới cơ chế, chính sách về xã hội hóa và tự chủ trong lĩnh vực TDTT được tăng cường đã tạo ra hành lang pháp lý, tạo điều kiện phát triển các loại hình hoạt động và doanh nghiệp thể thao. Đã có sự quan tâm xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với VĐV, HLV thể thao thành tích cao.

Phát huy vai trò của Ủy ban Olympic Việt Nam, các liên đoàn, hiệp hội thể thao trong điều hành các hoạt động TDTT. Công tác hợp tác quốc tế về TDTT ngày càng được mở rộng. Trong đó, thể thao Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; là thành viên của hầu hết các tổ chức thể thao quốc tế, châu lục và khu vực,…

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW còn có một số tồn tại, hạn chế như: một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết, chưa có sự phối hợp chặt chẽ và bố trí đầu tư nguồn lực cho công tác TDTT. Quản lý nhà nước về TDTT còn chậm đổi mới trước cơ chế thị trường, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Thiếu hành lang pháp lý, cơ chế quản lý để phát triển thể thao chuyên nghiệp. Việc ứng dụng khoa học công nghệ và y học TDTT còn nhiều hạn chế. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, ý chí, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho VĐV, HLV, trọng tài ở cơ sở chưa được quan tâm.

Định hướng trong thời gian tới

Thể dục, thể thao là chính sách kinh tế – xã hội quan trọng và là phương thức phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, đảm bảo an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của cá nhân và toàn xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, nếp sống văn minh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế, khẳng định vị thế, hình ảnh Việt Nam. Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW hiệu quả, cần đẩy mạnh phong trào rèn luyện sức khỏe rộng khắp trong toàn dân, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Phấn đấu đến năm 2030, có trên 50% dân số tập luyện TDTT thường xuyên, 95% số trường học đạt được các điều kiện tiêu chuẩn về giáo dục thể chất. Nâng cao thành tích thể thao ở đấu trường châu lục và thế giới ở những môn thể thao có thế mạnh. Phát triển thể thao chuyên nghiệp và một số môn thể thao nhà nghề. Kinh tế thể thao trở thành ngành kinh tế quan trọng, đến năm 2030 đóng góp từ 1-2% GDP.

Thể thao học đường  đang được trú trọng

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tham gia của hệ thống chính trị, sự phối hợp hiệu quả của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong công tác TDTT.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực TDTT. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với công tác TDTT. Đưa các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về TDTT vào nghị quyết, chương trình, kế hoạch của địa phương, đơn vị. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế thể thao cơ sở.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tập luyện TDTT; lồng ghép công tác TDTT vào phong trào và cuộc vận động; phát huy vai trò, trách nhiệm giám sát, phản biện và phản ánh với cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác TDTT.

Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển TDTT

Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về TDTT; kiến thức, kỹ năng hoạt động thể chất; thể dục phòng, chữa bệnh bằng hình thức phù hợp với từng đối tượng, phát huy hiệu quả của truyền thông đại chúng, mạng xã hội; lồng ghép trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”…

Thứ ba, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước; đổi mới phương thức quản lý, điều hành trong lĩnh vực TDTT.

Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về TDTT đáp ứng yêu cầu phát triển thể thao chuyên nghiệp, thể thao nhà nghề, kinh tế thể thao và phù hợp với các cam kết quốc tế; bổ sung chính sách đối với các đối tượng hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực TDTT. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT. Ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức xã hội đầu tư xây dựng và vận hành các cơ sở thể thao, tham gia tổ chức thi đấu, đào tạo VĐV và cung cấp dịch vụ TDTT.

Kiện toàn tổ chức bộ máy và đổi mới quản lý nhà nước về TDTT theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng cơ chế hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước với các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia trong quản lý, điều hành lĩnh vực thể thao. Tổ chức cung ứng dịch vụ TDTT theo các chuẩn mực quốc tế. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển thể dục, thể thao cho mọi người; đổi mới giáo dục thể chất và thể thao trường học; phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp và một số môn thể thao nhà nghề

Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, đơn vị, khu công nghiệp. Xây dựng hệ thống chỉ số rèn luyện và đánh giá thể lực con người Việt Nam, ứng dụng công nghệ số trong đánh giá chất lượng thể dục, thể thao quần chúng và hướng dẫn người dân tập luyện TDTT. Phát triển mạnh các dịch vụ thể thao đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân.

Đẩy mạnh công tác huấn luyện thể lực, thi đấu thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại. Phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong việc phát triển TDTT, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hoàn thiện hệ thống đào tạo VĐV và thi đấu thể thao; phát triển thể thao chuyên nghiệp và một số môn thể thao nhà nghề. Tạo cơ chế liên kết giữa cơ sở đào tạo VĐV với viện nghiên cứu và các liên đoàn, câu lạc bộ, doanh nghiệp thể thao. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, y học thể thao trong đào tạo VĐV.

Thứ năm, phát triển kinh tế thể thao, huy động nguồn lực tài chính, đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao hiệu quả đầu tư cho sự nghiệp TDTT

Tạo môi trường pháp lý thuận lợi thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thể thao, đưa thể thao trở thành một ngành kinh tế. Đổi mới, hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thể thao. Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu, thị trường và dịch vụ thể thao. Thí điểm tổ chức, tiến tới triển khai mô hình đặt cược, xổ số thể thao để tạo nguồn thu tái đầu tư phát triển TDTT.

Tăng cường các nguồn lực đầu tư, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách sự nghiệp TDTT. Đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ TDTT…

TS.Phạm Thanh Cẩm, ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Mai – Ban Tuyên giáo Trung ương