Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2): THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Y HỌC THỂ THAO VIỆT NAM

20/02/2022

Công tác Y học thể dục thể thao (TDTT) đã, đang và sẽ luôn đóng vai trò quan trọng trong tổng thể sự phát triển của mọi nền TDTT, dù thuộc chế độ chính trị và trình độ nào. Nhân dịp này, chúng ta thử cùng nhìn nhận về thực trạng lĩnh vực này tại Việt Nam và các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển y học TDTT trong thời gian tới.

Tuyển thủ Đỗ Hùng Dũng đã trở lại nhờ được điều trị tốt chấn thương

Vài nét về thực trạng y học TDTT Việt Nam

Y học TDTT là một chuyên ngành của khoa học y học mà đối tượng nghiên cứu là VĐV thể thao, người tập luyện thể thao ở mọi lứa tuổi có giới tính và trình độ tập luyện khác nhau (Theo Từ điển bách khoa Việt Nam).

Để làm rõ hơn khái niệm này, các chuyên gia về y học thể thao cụ thể hóa hơn như sau: Y học thể thao là khoa học thực hành với đầy đủ các nhiệm vụ, phương pháp, cơ sở lý luận và các vấn đề nghiên cứu đặc trưng của riêng mình. Nó ứng dụng những kiến thức và thành tựu của y sinh học và khoa học liên ngành để tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện quá trình giáo dục thể thất nhằm nâng cao sức khỏe người tập và thành tích thể thao của vận động viên. Bên cạnh đó nó còn thực hiện việc nghiên cứu bệnh lý, cách phòng và chữa bệnh do tập luyện và thi đấu thể thao gây ra. Nhiệm vụ cơ bản của Y học thể thao: Thường xuyên tổ chức và tiến hành việc theo dõi sức khỏe cho tất cả những người tham gia tập luyện TDTT; Tiến hành kiểm tra y học sư phạm, theo dõi, phòng ngừa và điều trị cho VĐV ưu tú; Áp dụng và nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa, điều trị chấn thương và các bệnh lý xảy ra trong quá trình tập luyện và thi đấu thể thao. Nghiên cứu xây dựng chế độ dinh dưỡng; các biện pháp tăng cường khả năng hồi phục cho VĐV; Đảm bảo y tế và tiến hành kiểm tra doping cho các VĐV tham gia các cuộc thi đấu thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp; Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở trong cả lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng và Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục về công tác giáo dục thể chất và y học thể thao trong nhân dân.

Tiền thân của Y học thể dục thể thao Việt Nam là Bộ môn y sinh học Trường Cán bộ TDTT trung ương được thành lập ngày 25/9/1959 cùng với Ngày thành lập Trường. Từ năm 1959 đến nay, tổng số cán bộ giáo viên đã tham gia giảng dạy là 43 người. Các giáo viên trong Bộ môn được đào tạo cơ bản chính quy ở  nước ngoài như  Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Cuba và các Trường Đại học danh tiếng trong nước như các  Trường Đại học Y khoa,  Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.v.v…

Đến năm 1979, Ban Y sinh trực thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao được thành lập. Năm 1998 thành lập Trung tâm Y học thể thao trực thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao. Giai đoạn từ năm 1976 đến 1998 các bộ môn y sinh học, các trung tâm hoặc phòng y học TDTT được thành lập ở tất cả các trường đại học TDTT và các trung tâm huấn luyện TDTT quốc gia. Bệnh viện Thể thao Việt Nam ra đời trên cơ sở của Trung tâm Y học thể thao (theo Quyết định 1171/2006/QĐ-UBTDTT ngày 30/6/2006 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao). Trung tâm Doping và Y học thể thao được Thủ tướng chính phủ thành lập ngày 28 tháng 12 năm 2011 với quyết định số 2469/QĐ-TTg.

Như vậy, sau 63 năm, ban đầu chỉ từ một bộ môn y sinh học đến nay về cơ cấu tổ chức và mạng lưới y học TDTT đã hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước. Hiện nay, với đội ngũ cán bộ y học TDTT đang làm việc trong các cơ sở đào tạo cán bộ, đào tạo vận động viên, bác sĩ các câu lạc bộ thể thao  và hai đơn vị chuyên ngành là Bệnh viện Thể thao Việt Nam và Trung tâm Doping và Y học thể thao là 285 người. Về trình độ chuyên môn có 01 GS, 06 PGS, 10 TS, 04 BSCK2, 22 BSCKI, bác sĩ, dược sĩ và cử nhân y khoa 68, còn lại là cán bộ y học TDTT, điều dưỡng và các loại hình chuyên môn khác. Đây là nguồn lực rất quan trọng của Y học TDTT nước nhà.

Đội ngũ cán bộ, bác sĩ trong ngành TDTT đang ngày đêm sát cánh cùng các HLV, các nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi và chữa trị chấn thương cho khoảng 15000 VĐV năng khiếu và đội tuyển thể thao các tỉnh. Thành ngành và đội tuyển quốc gia. Thực hiện việc đảm bảo y tế và kiểm tra doping tại các giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế. Tại SEA Games 22 năm 2003 lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam, đội ngũ cán bộ y học thể thao nước nhà đã phối kết hợp với đội ngũ y tế các tỉnh, thành, ngành và Viện Khoa học Hình sự Bộ Công an hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Tiểu ban y tế và kiểm tra doping của nước chủ nhà. Chỉ còn ba tháng nữa (tháng 5/2022) SEA Games (kỳ thứ 31) sẽ lần thứ hai được tổ chức tại Việt Nam. Công tác này đang được khẩn trương triển khai để có thể đảm bảo công tác y tế và kiểm tra doping với chất lượng cao nhất. Một thách thức mới với y học thể thao nước nhà là đảm bảo tốt công tác phòng chống, xét nghiệm COVID-19 cho tất cả các thành viên tham dự đại hội.

Những điểm sáng đáng ghi nhận

Một trong những điểm sáng trong hợp tác quốc tế, đó là việc thành lập Bệnh viện Thể thao Việt Nam với sự giúp đỡ về vật chất và sự chỉ đạo về chuyên môn của Dr. Nobert Moos từ Cộng hòa Liên bang Đức. Chúng ta ghi nhận sự giúp đỡ to lớn của các tổ chức y học thể thao quốc tế đã luôn đồng hành và hỗ trợ về công tác chuyên môn và kinh nghiệm tổ chức trong việc phát triển sự nghiệp y học thể thao nước nhà.

Những thành tựu của Y học TDTT nước ta trong những năm gần đây đã có bước chuyển mình tương đối toàn diện, các đơn vị chuyên ngành, các trường đại học TDTT, các trung tâm huấn luyện TDTT quốc gia và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành đã thực hiện tương đối tốt và hoàn thành được chức năng nhiệm vụ của Y học TDTT, cụ thể:

Đã làm tốt công tác tuyển chọn, đánh giá trình độ tập luyện của VĐV, công tác y tế trong các giải thi đấu thể thao trong và ngoài nước; Tư vấn và tham gia các Tiểu ban Y tế, thực hiện tốt nhiệm vụ Y tế – kiểm tra doping phục vụ cho các đoàn Thể thao Việt Nam tham dự các giải thể thao đóng góp vào thành tích của các đội tuyển Việt Nam trong những năm qua. Bệnh viện Thể thao Việt Nam đã triển khai đầy đủ 150 giường bệnh theo kế hoạch và 45 giường ngoài kế hoạch với 12 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 5 phòng chức năng, kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý. Chỉ trong năm 2019, Bệnh viện Thể thao Việt Nam đã khám gần 53.800 lượt (đạt 108% so với kế hoạch). Tổng số điều trị nội trú là hơn 4.000 bệnh nhân (đạt 107% so với kế hoạch) với hơn 1.860 ca phẫu thuật thành công. Các Phòng Y học tại các Trung tâm huấn luyện TTQG đã thực hiện tốt việc chăm sóc y tê, hồi phục sức khỏe và chữa trị chấn thương cho VĐV.

Về công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ chuyên ngành: Các trường đại học TDTT, Bệnh viện TTVN, Trung tâm Doping và y học thể thao… đang tiến hành đào tạo đội ngũ cử nhân y học thể thao, đào tạo sau đai học và y sinh học TDTT; Tham gia giảng dạy tại một số lớp tập huấn về Y học thể thao; Tăng cường hợp tác quốc tế về Y học thể thao với Hội đồng Y học thể thao các Tổ chức khu vực, châu lục và thế giới; Cử cán bộ tham gia giảng dạy Y học thể thao, phổ biến kiến thức Y học thể thao cho các huấn luyện viên, cán bộ quản lý thể thao đỉnh cao toàn quốc; Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức Y học thể thao trong toàn quốc và đào tạo sơ cấp cứu chấn thương. Ngành TDTT được sự giúp đỡ của Học viện Quân Y đã đào tạo được hai lớp bác sĩ chuyên khoa I về y học TDTT. Trong năm 2020 đã tổ chức một số Hội thảo chuyên ngành về y học thể thao, tiêu biểu là Hội thảo khoa học “Chấn thương thể thao – Những tiến bộ trong phẫu thuật điều trị bệnh lý về khớp” được tổ chức tại Bệnh viện TTVN ngày 31/7/2020. Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe Tiến sĩ, bác sỹ, Mark Chalmers Ferguson – Giám đốc Trung tâm đào tạo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm cũng như những tiến bộ trong phẫu thuật nội soi khớp vai. Đây là những kiến thức, vô cùng bổ ích được đúc rút ra từ thực tiễn, đặc biệt những tiến bộ của thế giới trong phẫu thuật bệnh lý khớp vai. Hội thảo cũng nhận được những chia sẻ, thảo luận từ các đại biểu tham dự. Ngày 28/01/2021, Trường Đại học TDTT TP.Hồ Chí Minh kết hợp với Bệnh viện Quân Y 175 tổ chức Hội nghị khoa học “Y học thể thao vì sức khỏe vận động viên và cộng đồng” với 12 báo cáo khoa học liên quan Ứng dụng y học vào công tác tuyển chọn VĐV, Phòng ngừa chấn thương thể thao, Nghiệm pháp gắng sức trong thể thao, Trải nghiệm công nghệ mới trong thăm khám y khoa, Các giải pháp phục hồi cho VĐV…Đây là những vấn đề cơ bản của y học thể thao.

Về công tác nghiên cứu khoa học: Trong những năm gần đây nhiều đề tài NCKH cấp nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh, thành về lĩnh vực y học thể thao, tiêu biểu trong số đó có thể kể đến: Đề tài độc lập cấp nhà nước, mã số ĐTĐL-2005/23G: “Nghiên cứu quy trình công nghệ khai thác hoạt chất sinh học từ côn trùng và động vật biển để sản xuất thực phẩm chức năng cho vận động viên” (Chủ nhiệm GS.TS Lê Quý Phượng), các đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học trong quá trình chuẩn bị tham dự ASIAD và Olympic của các đội tuyển thể thao quốc gia (Chủ nhiệm: GS.TS Lâm Quang Thành); “Ứng dụng công nghệ gen trong tuyển chọn vận động viên (Chủ nhiệm: PGS.TS Lê Đức Chương)”; “Nghiên cứu ứng dụng một số phương pháp kiểm tra doping một số chất thuộc nhóm Steroid trong tập luyện và thi đấu thể thao (Chủ nhiệm: GS.TS Lê Quý Phượng)”; “Nghiên cứu các hoạt chất sinh học từ sò huyết biển để sản xuất thực phẩm chức năng phục hồi sức khỏe cho VĐV (Chủ nhiệm: TS Vũ Thái Hồng)”; “Hiệu quả bổ sung các chất dinh dưỡng , vitamin và khoáng chất với VĐV đội tuyển quốc gia tập huấn tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.Hồ Chí Minh (Chủ nhiệm: TS Nguyễn Thành Lâm)”; “Nghiên cứu quy trình sản xuất chế phẩm từ cây thuốc Giấu (Indigofera Zollingriana Miq) để chữa trị chấn thương cho VĐV (Chủ nhiệm: BSCKI Nguyễn Văn Quang)”; Thiết kế “Phần mềm tính năng lượng tiêu hao trong hoạt động hàng ngày và trong tập luyện đặc thù của một số môn thể thao tập huấn tại Trung tâm HLTTQG TP.Hồ Chí Minh (Chủ nhiệm: TS Nguyễn Thành Lâm; PGS.TS Đặng Hà Việt)”… Đây là những đề tài khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, góp phần trực tiếp vào thành công của Thể thao Việt Nam trong thời gian qua.

Xu hướng phát triển y học thể thao hiện đại là Xu hướng liên kết hoá: Các tổ chức YHTT nhỏ (Hiệp hội YHTT quốc gia) liên kết với nhau để hình thành các tổ chức YHTT lớn hơn (Liên đoàn YHTT quốc tế, khu vực), có vị thế hơn trong phong trào thể thao chung (Olympic, giải châu lục, giải quốc tế) và các hoạt động được triển khai đồng bộ, thống nhất hơn; Nhanh chóng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong YHTT: Tận dụng sự phát triển chung của các ngành khoa học và của y học, các phương pháp điều trị và các giải pháp nghiên cứu mới đều được áp dụng nhanh chóng trong YHTT: Nội soi, sinh cơ, sử dụng thuốc, vật lý trị liệu…với các trang thiết bị hiện đại; Nghiên cứu các giải pháp mới phòng và chữa trị chấn thương cho vận động viên; Nghiên cứu các giải pháp hồi phục sức khoẻ cho vận động viên; Phổ biến kiến thức và chăm sóc sức khoẻ thể thao cho toàn bộ cộng đồng; Nghiên cứu phát hiện và phòng ngừa doping trong thể thao; Vấn đề đột tử trong thể thao và Tập trung tiềm lực cho thể thao thành tích cao nhằm cạnh tranh vị thế quốc gia trong thể thao trên thế giới và trong khu vực.

Những giải pháp trọng tâm của Y học TDTT Việt Nam trong thời gian tới

Để Y học TDTT theo kịp xu hướng phát triển của y học thể thao thế giới và đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của Ngành TDTT trong những năm tiếp theo, chúng ta cần tập trung thực hiện các giải pháp quan trọng sau đây:

– Hình thành mạng lưới y học thể dục thể thao trên toàn quốc, giao cho Bệnh viện Thể thao Việt Nam làm đầu mối và là đơn vị chỉ đạo tuyến cho các cơ sở, đơn vị y học thể thao trên cả nước.

– Tăng cường công tác phổ biến kiến thức về y học thể thao và chăm sóc sức khoẻ thể thao cho toàn bộ cộng đồng.

– Liên kết với các trường đại học y dược đào tạo đội ngũ bác sĩ và cán bộ chuyên ngành y học thể thao, giao Bệnh viện Thể thao Việt Nam là đầu mối thực hiện nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành y học thể thao, bằng cách Thành lập đơn vị đào tạo (có thể là Viện Đào tạo YHTT); xin phép các bộ có thẩm quyền mở mã ngành đào tạo sau đại học về y học thể dục thể thao.

– Tăng cường đầu tư phương tiện hồi phục hiện đại cho các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và các tỉnh, thành, ngành.

– Có chế độ chính sách đặc thù để tuyển dụng hoặc mời các chuyên gia y học thể thao trình độ cao về phục vụ công tác y học TDTT của ngành.

– Mở rộng quy mô Bệnh viện Thể thao Việt Nam lên Bệnh viện đa khoa cấp I với 250-300 giường bệnh.

– Đầu tư cả về trang thiết bị và nhân lực cho Trung tâm Doping và y học thể thao để trong 5 đến 10 năm tới đủ sức xét nghiệm các chất doping, tiến tới có Phòng xét nghiệm đạt chuẩn WADA.

– Tham gia tích cực vào công tác tuyển chọn và giám định Trình độ tập luyện cho VĐV thành tích cao theo tinh thần Thông tư số 03/2015/BVHTTDL ngày 03 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch “Quy định về giám định khoa học đánh giá trình độ tập luyện thể thao và kiểm tra sức khỏe của vận động viên.

– Nghiên cứu xây dựng chế độ dinh dưỡng cho vận động viên trên cơ sở đặc thù tiêu hao năng lượng thuộc từng môn thể thao thành tích cao, mà trước hết là vận động viên các môn thể thao olympic.

– Tăng cường ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ y học, công nghệ thông tin và tăng cường hợp tác quốc tế về y học thể dục thể thao.

– Tăng cường công tác xã hội hóa trong lĩnh vực y học thể dục thể thao.

Qua 63 năm hình thành và phát triển, với những thành tựu đáng trân trọng đã đạt được, hy vọng Y học thể dục thể thao nước nhà dưới sự quan tâm, chỉ đạo, đầu tư của các cấp lãnh đạo cùng sự nỗ lực cố gắng, lòng yêu ngành, yêu nghề của đội ngũ cán bộ y học thể thao, sẽ đạt được nhiều thành công hơn nữa, góp phần xứng đáng vào sự phát triển của Ngành TDTT trong những năm tiếp theo

GS.TS.BS Lê Quý Phượng